Duyên Hợp – tinh túy của đạo Phật (6): chương 5

CHƯƠNG 5 – DUYÊN HỢP – TINH TÚY CỦA ĐẠO PHẬT

“Ai thấy được lý Duyên Hợp, người ấy thấy được pháp; ai thấy được pháp, người ấy thấy được lý Duyên Hợp”.

(MN 28)

Chương năm bàn về ý nghĩa của Duyên Hợp và ứng dụng của Duyên Hợp trong nhiều tình huống khác nhau. Điểm quan trọng cần nhấn mạnh là Duyên Hợp không tương đương với công thức 12 nhân duyên như quan niệm phổ biến ngày nay. Công thức 12 nhân duyên là muộn sinh, ít nhiều tự mâu thuẫn và nội dung của nó không thể hiện đầy đủ ý nghĩa của Duyên Hợp (xem phụ lục 3).

5.1 Ý NGHĨA CỦA DUYÊN HỢP

Khi (những) cái này có mặt, cái kia có mặt

Với sự có mặt của (những) cái này, cái kia có mặt

Khi (những) cái này vắng mặt, cái kia vắng mặt

Với sự vắng mặt của (những) cái này, cái kia vắng mặt.

iti imasmiṃ sati idaṃ hoti,

imassuppādā idaṃ uppajjati,

imasmiṃ asati idaṃ na hoti,

imassa nirodhā idaṃ nirujjhati.

5.1.1 Sinh paccayā (duyên) Chết đồng thời Chết paccayā (duyên) Sinh

Đầu tiên ta xét ba ví dụ.

Ví dụ 1

– Người A già phải không?

– Người A trẻ phải không?

– Người A vừa già vừa trẻ phải không?

– Người A không già không trẻ phải không?

Ta biết rằng cả bốn câu hỏi trên đều không trả lời được, nếu không có đối tượng nào khác để so sánh với A. Ta cần ít nhất một đối tượng B để so sánh. B có thể là một con người. B cũng có thể không phải là người, chẳng hạn B là “thời gian” thì:

– A già hơn A “cách đây 10 năm”.

– A trẻ hơn A “ba năm sau”.

– A già hơn A “cách đây 10 năm” và trẻ hơn A “ba năm sau”.

– Người A không già không trẻ “bây giờ”.

Như vậy, cần có ít nhất hai đối tượng thì mọi phép so sánh mới có nghĩa. Trong trường hợp A là một bậc giác ngộ – abhisambuddhā, thì vị này không so sánh với bất kì một đối tượng B nào, nên gọi là “bậc giác ngộ không so sánh”, cũng là ý nghĩa của từ abhisambuddhā. Vì vậy, ta không nhất thiết phải nói về một bậc giác ngộ dù với mỹ từ như vô thượng, thế tôn, nhân thiên sư v.v. Từ buddha – bậc giác ngộ có lẽ là vừa đủ.

Continue reading

Advertisements

Đạo Phật và Khoa học – Tính không và thuyết lượng tử (Phần 2)

Bìa sách "Buddhism and Science"

THẮNG PHÁP (ABHIDHARMA)

Khảo luận tôi đề cập về lời dạy của Đức Phật ở phần trước chưa đầy đủ mấy. Chẳng hạn tôi chưa nói gì về giải thoát và con đường dẫn tới giải thoát cả. Tuy vậy những kiến thức đã đề cập cung cấp một nền tảng tương đối đủ để ta so sánh tính không với thuyết lượng tử.

Trong vòng vài thế kỉ sau cái chết của Đức Phật lịch sử, nhiều trường phái Phật giáo sơ kì đã phát triển những diễn giải rất phức tạp về tâm và vật, được gọi là Thắng Pháp. Thắng Pháp tiếp cận thế giới theo hướng phân tích, trong đó sinh vật sống và thực thể vật chất không được coi là thực thể cơ bản nhất (unitary entities), mà là tập hợp từ những đơn vị nền tảng gọi là dharma (nghĩa là “pháp” –Kan). Từ dharma trong tiếng Phạn có nhiều nghĩa, chẳng hạn “luật lệ”, “lời dạy của Đức Phật”. Còn từ dharma tôi đang dùng trong ngữ cảnh bài này có nghĩa là “hiện tượng vật chất và tinh thần”. Dharma là hiện tượng có tính phi cá nhân, đồng thời chỉ hiện tượng hoặc vật chất hoặc tinh thần.

Từ dharma dùng theo nghĩa hiện tượng vật chất hay tinh thần cơ bản đã được dùng trước khi các tập Thắng Pháp xuất hiện. Những văn bản ghi lại lời dạy của Đức Phật truyền lại đến nay, gọi là Sūtra (nghĩa là “kinh” –Kan), có nói tới dharma, chắc là vì để truyền đạt được quan niệm vô ngã thì cần phải tính tới chuyện tiếp cận trải nghiệm của người ta sao cho tránh nhắc tới khái niệm về bản ngã. Theo thời gian, khuynh hướng tự nhiên xảy ra là chi tiết hóa những lời dạy ghi lại trong kinh Phật để phát triển những diễn giải, những phân loại mọi vật dựa trên dharma. Có vài mong muốn còn tham vọng hơn nữa, là tìm cách lí giải mọi sự vật cùng với liên hệ giữa chúng dựa theo dharma. Mong muốn này đã thúc đẩy việc hoàn thiện bức tranh của đạo Phật về thế giới, và có thể đã giúp hình thành nên Thắng Pháp một cách hệ thống.

Continue reading

Đạo Phật và Khoa học – Tính không và thuyết lượng tử (Phần 1)

Bìa sách “Buddhism and Science”

Tác giả: William L. Ames

Tính không (Śūnyatā) là khái niệm cốt lõi trong đạo Phật, nhất là trong Phật giáo Đại thừa (Māhayāna); còn thuyết lượng tử là trung tâm của vật lí hiện đại. Tính không vốn không có nghĩa “không tồn tại”, mà là, vạn vật kể cả bản thân mỗi người chúng ta thì không có tự tính (independent identity) nào mà ta hay nghĩ là mình có. Thuyết lượng tử đã thay thế quan niệm cơ giới về tự nhiên của nền vật lí thế kỉ mười chín, bằng những quan niệm ngày càng không tương thích với chủ nghĩa duy thực ngây thơ (naïve realism). Để biết những quan niệm của đôi bên có điểm gì chung hay không, trước tiên ta hãy đề cập đến đạo Phật.

SƠ NÉT VỀ ĐẠO PHẬT

Cuộc đời của Đức Phật (khoảng 560 – 480 trước công nguyên) thuộc giai đoạn có nhiều thay đổi về chính trị và xã hội trong vùng bắc Ấn Độ. Việc dùng đồ sắt dẫn tới dân số gia tăng, con người trở nên giàu có hơn nhờ dùng rìu sắt để khai hoang rừng rậm, dùng lưỡi cày sắt để mở rộng diện tích đất canh tác. Đô thị mọc lên, các đại vương quốc thay thế dần những vương quốc nhỏ và những nước cộng hòa kiểu quí tộc (aristocratic republics). Quá trình đô thị hóa cùng với biến đổi xã hội đã tạo ra bất hòa, chống đối cùng nghi vấn về những nghi thức tôn giáo cổ truyền. Trong môi trường như thế đã sinh sôi ra nhiều giáo huấn mới về tôn giáo cũng như triết lí. Học thuyết của Áo nghĩa thư (Upaniṣad) đã biến đổi sâu sắc một tôn giáo mà ngày nay ta gọi là Ấn Độ giáo; và trong số những trường phái mới sinh ra tại thời điểm đó, đạo Phật sau này đã trở thành một truyền thống tâm linh lớn trên thế giới.

Continue reading