Đạo Phật và Khoa học (07) – Tính chất tôn giáo trong duy vật luận khoa học

Bìa sách "Buddhism and Science"

Phần tổng quan vừa rồi về giáo thuyết trọng tâm của trong duy vật luận khoa học đã cho thấy rất rõ tính giáo điều của nó, giờ đã vượt xa địa hạt khoa học thực nghiệm. Cụ thể là trong thế kỉ hai mươi, duy vật luận khoa học đã chứa đựng tính chất của tôn giáo. Như trong diễn giải của Wilson về chủ thuyết này, ông đã nhắc nhiều đến mục đích, ý nghĩa và giá trị con người vốn là những thứ Stephen Jay Gould cho là chỉ thuộc lĩnh vực tôn giáo.Wilson cũng viết rất dài về mục đích và ý nghĩa cuộc đời, nguồn gốc và định mệnh tối hậu, những trải nghiệm trong đời sống nội tâm của chúng ta, cũng là những thứ Langdon Gilkey gắn cho tôn giáo. Biên giới giữa khoa học và tôn giáo đã biến mất trong duy vật luận khoa học, một loại tôn giáo mới được đưa ra nhằm thay thế cho tất cả mọi tôn giáo truyền thống. Nó tôn sùng, kính sợ, và cống hiến cho một thực thể thiêng liêng giờ không còn là Thượng Đế hay sự giác ngộ tâm linh mà là thế giới vật chất tồn tại siêu việt, nghĩa là “vượt ngoài đầu óc chúng ta”. Nói khác đi, duy vật luận khoa học như một mẫu hình hiện đại của tôn giáo tự nhiên (nature religion) vốn đã có vô số tiền lệ trong suốt thời tiền sử của nhân loại (Goodenough 1998; Wallace 2000: 30 – 39).

Continue reading

Đạo Phật và Khoa học – Tính không và thuyết lượng tử (Phần 2)

Bìa sách "Buddhism and Science"

THẮNG PHÁP (ABHIDHARMA)

Khảo luận tôi đề cập về lời dạy của Đức Phật ở phần trước chưa đầy đủ mấy. Chẳng hạn tôi chưa nói gì về giải thoát và con đường dẫn tới giải thoát cả. Tuy vậy những kiến thức đã đề cập cung cấp một nền tảng tương đối đủ để ta so sánh tính không với thuyết lượng tử.

Trong vòng vài thế kỉ sau cái chết của Đức Phật lịch sử, nhiều trường phái Phật giáo sơ kì đã phát triển những diễn giải rất phức tạp về tâm và vật, được gọi là Thắng Pháp. Thắng Pháp tiếp cận thế giới theo hướng phân tích, trong đó sinh vật sống và thực thể vật chất không được coi là thực thể cơ bản nhất (unitary entities), mà là tập hợp từ những đơn vị nền tảng gọi là dharma (nghĩa là “pháp” –Kan). Từ dharma trong tiếng Phạn có nhiều nghĩa, chẳng hạn “luật lệ”, “lời dạy của Đức Phật”. Còn từ dharma tôi đang dùng trong ngữ cảnh bài này có nghĩa là “hiện tượng vật chất và tinh thần”. Dharma là hiện tượng có tính phi cá nhân, đồng thời chỉ hiện tượng hoặc vật chất hoặc tinh thần.

Từ dharma dùng theo nghĩa hiện tượng vật chất hay tinh thần cơ bản đã được dùng trước khi các tập Thắng Pháp xuất hiện. Những văn bản ghi lại lời dạy của Đức Phật truyền lại đến nay, gọi là Sūtra (nghĩa là “kinh” –Kan), có nói tới dharma, chắc là vì để truyền đạt được quan niệm vô ngã thì cần phải tính tới chuyện tiếp cận trải nghiệm của người ta sao cho tránh nhắc tới khái niệm về bản ngã. Theo thời gian, khuynh hướng tự nhiên xảy ra là chi tiết hóa những lời dạy ghi lại trong kinh Phật để phát triển những diễn giải, những phân loại mọi vật dựa trên dharma. Có vài mong muốn còn tham vọng hơn nữa, là tìm cách lí giải mọi sự vật cùng với liên hệ giữa chúng dựa theo dharma. Mong muốn này đã thúc đẩy việc hoàn thiện bức tranh của đạo Phật về thế giới, và có thể đã giúp hình thành nên Thắng Pháp một cách hệ thống.

Continue reading

Đạo Phật và Khoa học – Tính không và thuyết lượng tử (Phần 1)

Bìa sách “Buddhism and Science”

Tác giả: William L. Ames

Tính không (Śūnyatā) là khái niệm cốt lõi trong đạo Phật, nhất là trong Phật giáo Đại thừa (Māhayāna); còn thuyết lượng tử là trung tâm của vật lí hiện đại. Tính không vốn không có nghĩa “không tồn tại”, mà là, vạn vật kể cả bản thân mỗi người chúng ta thì không có tự tính (independent identity) nào mà ta hay nghĩ là mình có. Thuyết lượng tử đã thay thế quan niệm cơ giới về tự nhiên của nền vật lí thế kỉ mười chín, bằng những quan niệm ngày càng không tương thích với chủ nghĩa duy thực ngây thơ (naïve realism). Để biết những quan niệm của đôi bên có điểm gì chung hay không, trước tiên ta hãy đề cập đến đạo Phật.

SƠ NÉT VỀ ĐẠO PHẬT

Cuộc đời của Đức Phật (khoảng 560 – 480 trước công nguyên) thuộc giai đoạn có nhiều thay đổi về chính trị và xã hội trong vùng bắc Ấn Độ. Việc dùng đồ sắt dẫn tới dân số gia tăng, con người trở nên giàu có hơn nhờ dùng rìu sắt để khai hoang rừng rậm, dùng lưỡi cày sắt để mở rộng diện tích đất canh tác. Đô thị mọc lên, các đại vương quốc thay thế dần những vương quốc nhỏ và những nước cộng hòa kiểu quí tộc (aristocratic republics). Quá trình đô thị hóa cùng với biến đổi xã hội đã tạo ra bất hòa, chống đối cùng nghi vấn về những nghi thức tôn giáo cổ truyền. Trong môi trường như thế đã sinh sôi ra nhiều giáo huấn mới về tôn giáo cũng như triết lí. Học thuyết của Áo nghĩa thư (Upaniṣad) đã biến đổi sâu sắc một tôn giáo mà ngày nay ta gọi là Ấn Độ giáo; và trong số những trường phái mới sinh ra tại thời điểm đó, đạo Phật sau này đã trở thành một truyền thống tâm linh lớn trên thế giới.

Continue reading

Một chút về đạo Phật và khoa học

Bìa sách "Buddhism and Science"

Có thể bàn về cái gì khi nói đến tương quan giữa đạo Phật và khoa học? Có lẽ, cả hai cùng đi trên con đường tìm về thực tại. Đạo Phật với vai trò con đường tâm linh đã giúp cuộc đời này vơi đi nhiều nỗi khổ. Khoa học với vai trò con đường tạo ra vật chất đã giúp cuộc đời này bớt nhọc xác thân. Đó là cái chung. Còn cái riêng là gì? Có lẽ, nhiều người sẽ nghĩ, khoa học là địa hạt của lí trí, không có chỗ cho niềm tin, và ngược lại, đạo Phật là địa hạt của niềm tin, không có chỗ cho lí trí. Thật ra không phải như vậy.

Niềm tin trong khoa học

Người ta hay cho rằng khoa học có nền tảng là lí tính, không có chỗ cho niềm tin mơ hồ, mâu thuẫn. Thật thế à? Lấy ví dụ trong môn hình học Euclid mà ai cũng đã từng học qua. Thứ nhất, định nghĩa những khái niệm cơ bản như điểm, đường thẳng, mặt phẳng được mặc nhiên thừa nhận! Trong đó, điểm được xem là một thứ không có kích thước hay kích thước bằng không. Vậy tại sao tập hợp vô số thứ không kích thước như thế lại thành một đường thẳng có kích thước hay độ dài được? Kế đến, đường thẳng được coi là không có bề rộng, vậy tại sao tập hợp vô số thứ không có bề rộng như thế lại thành một mặt phẳng có bề rộng được?

Loại hình học này được xây nên dựa trên hệ tiên đề Euclid nổi tiếng, mà ta đã biết tiên đề được xây dựng mà không chứng minh, nghĩa là ta chỉ có tin hay không tin thôi chứ không có cách gì phân tích bằng lí lẽ được.

Tương tự như vậy trong ngành đại số. Quí vị nào biết các cấu trúc đại số cơ bản như nhóm, vành, trường đều biết là chúng được định nghĩa cũng theo lối tiên đề, và vài tính chất cơ bản như giao hoán hay không giao hoán cũng vậy.

Continue reading

Đạo Phật và Khoa học – Đối thoại giữa nhận thức luận trong đạo Phật và trong cơ học lượng tử (Phần 2)

Bìa sách “Buddhism and Science”


BÀN VỀ NGUYÊN TỬ, QUANG TỬ, LƯỢNG TỬ – ON ATOMS, PHOTONS, AND QUANTA

ĐĐLLM, AW và TJ [nói tiếng Tây Tạng]

TJ: Chúng ta có thể nói tới loại hạt vi tế nhất. Các luận sư Trung Quán tông đã bác bỏ khái niệm về những thành tố bất kì được xem là nền tảng, nguyên sơ và tối hậu, kiểu như nguyên tử hay các hạt không thể phân nhỏ. Những luận sư ấy cho rằng quan niệm như thế là không hợp lí.

Zeilinger: Cái này thuộc vấn đề bản thể. Chí ít là trong ngành vật lí đã có mối bất hòa với một truyền thống lâu đời khác. Tư tưởng vật lí cho đến đầu thế kỉ thứ hai mươi là căn bản ta có thể giải thích – ít nhất là trên nguyên tắc – ta có thể giải thích vì sao một điều cụ thể nào đó xảy ra. Bức tranh cũ về vũ trụ ngày xưa giống như một cái đồng hồ được lên giây bởi đấng sáng thế trong Cơ Đốc Giáo – người thợ làm đồng hồ tối thượng ở đây là Thượng Đế, đã chế tạo và khởi động nó – và giờ thì vũ trụ đang vận hành chính xác như một cái đồng hồ. Tình huống đơn giản chỉ là giải thích đồng hồ hoạt động theo quy luật nào, đồng thời ta phải bắt đầu từ cái trong vật lí gọi là điều kiện tiên quyết (initial condition). Ta phải biết khởi thủy của vũ trụ trông ra sao thì những điều còn lại sẽ trở nên rõ ràng.

Continue reading

Đạo Phật và Khoa học – Đối thoại giữa nhận thức luận trong đạo Phật và trong cơ học lượng tử (Phần 1)

Bìa sách “Buddhism and Science”

Ghi chú của Kan:

1) ĐĐLLM: Đức Đạt Lai Lạt Ma, AW: Alan Wallace, TJ: Thupten Jinpa.

2) Trong phần thảo luận này, Đức Đạt Lai Lạt Ma, Alan Wallace, Thupten Jinpa đại diện cho đạo Phật; Anton Zeilinger và Arthur Zajonc đại diện cho giới vật lí.

3) Cụm từ “Nó là như vậy thôi” được dịch từ một số cụm tiếng Anh trong bài, như “That’s just the way it is” hay “That’s just the way things are”… Nghĩa của cụm từ này trong đạo Phật là: Phật tính/ Pháp tính/ Thể tính/ Bản chất các Pháp.

TÁC GIẢ: ANTON ZEILINGER

Anton Zeilinger sau khi được giáo dục trong ngành cổ học Hi La đã theo học vật lý tại Đại học Vienna. Ông là giảng viên cũng như giảng viên mời ở nhiều trường khắp nơi trên thế giới, trong đó có Đại học Vienna, MIT, Đại học Melbourne, Đại học kỹ thuật Munich, College de France và Đại học Merton. Hiện ông là giáo sư vật lý tại Viện vật lý thực nghiệm thuộc Đại học Vienna. Nghiên cứu chủ đạo của ông thuộc lĩnh vực cơ sở của cơ học lượng tử mà ông cùng nhóm nghiên cứu qua nhiều năm đã tìm được một số thí nghiệm cơ bản có tính quan trọng, trong đó gần đây nhất là quantum teleportation.

ĐỐI THOẠI GIỮA NHẬN THỨC LUẬN TRONG ĐẠO PHẬT VÀ TRONG CƠ HỌC LƯỢNG TỬ

Năm 1997 khi ông Arthur Zajonc là đồng nghiệp và bằng hữu của tôi mời tôi đến thăm Đức Đạt Lai Lạt Ma tại nơi ngài cư ngụ ở Dharamsala để luận bàn về vật lí hiện đại thì tôi rất hứng khởi. Vì công việc liên quan tới nền tảng cơ học lượng tử khiến tôi ngày càng suy tư về những câu hỏi thuộc nhận thức luận, nên tôi rất vui được thảo luận một số vấn đề như vậy với Đức Đạt Lai Lạt Ma vốn là đại diện cho một truyền thống tâm linh lớn trên thế giới.

Continue reading

Đạo Phật và Khoa học (06)- Khoa học thực nghiệm và sự giáo điều của duy vật luận khoa học (Phần 2)

Bìa sách “Buddhism and Science”

Chủ nghĩa vật chất (Physicalism; khác với chủ nghĩa duy vật – materialism) Kể từ thời Galileo trở đi mọi công cụ nghiên cứu khoa học được thiết kế chỉ để đo lường các hiện tượng vật lí. Cho nên có loại hiện tượng nào khác tồn tại thì nó cũng nằm ngoài phạm vi của khoa học, và khoa học ngày càng tiến triển theo cách như vậy. Tuy nhiên, những đại biểu cho nguyên tắc siêu hình thuộc chủ nghĩa vật chất từng kết luận chỉ có hiện tượng nào được phát hiện bằng công cụ khoa học mới thật sự hiện hữu. Họ tin vũ trụ chỉ cấu thành duy nhất bởi vật chất và thuộc tính sinh ra bởi vật chất. Để hiểu nguyên tắc này quan trọng là cần biết vật chất đang nghi vấn ở đây không phải là thứ chúng ta hay tiếp xúc trong đời thường. Ví dụ, một viên đá nằm trong bàn tay do kinh nghiệm nên ta biết nó có màu sắc, cấu trúc, cân nặng nhất định. Nhưng theo Wilson thì mọi tính chất trên của hòn đá chỉ là thuộc tính thứ yếu, chúng không tồn tại trong thế giới khách quan mà chỉ là sự tái hiện trong đầu chúng ta. Vật chất theo duy vật luận khoa học là thực thể làm nền tảng cho vũ trụ khách quan, nó tồn tại độc lập với mọi thuộc tính thứ yếu vốn chỉ phát sinh trong tương quan với chủ thể có tri giác. Tính chất thật sự của vật chất là thuộc tính chính yếu, có nguồn gốc từ vật chất, tồn tại độc lập với mọi phương pháp dò tìm.

Ngày nay khoa học biết được gì về bản chất của vật chất? Nhà vật lí công nhận vật chất cấu thành bởi nguyên tử, còn nguyên tử lại được cấu thành từ các hạt hạ nguyên tử như electron và proton. Sau đó xuất hiện các phỏng đoán đi xa hơn liên quan tới quark, siêu dây hay khác nữa, những loại phỏng đoán như thế liên hệ tới các bộ phận của hạt cơ bản. Nhưng bản chất thực về nền tảng cấu thành vũ trụ kiểu như trên bị tính huyền hoặc bao phủ. Vài nhà vật lí quan niệm nguyên tử là thuộc tính phát sinh bởi không gian hoặc không – thời gian. Thế nhưng họ đang nói đến loại không gian nào mới được? Vì hiển nhiên là có vô số dạng không gian khả dĩ ứng với từng hệ hình học của chúng, và giá trị cũng như tính tự nhất quán của mỗi loại không gian là như nhau. Một số nhà vật lí khác cho rằng nguyên tử không hề là một vật mà nó nên được coi như một tập hợp các mối liên hệ (Wallace 1996:55).

Continue reading