Duyên Hợp – tinh túy của đạo Phật (5): chương 4

CHƯƠNG 4 – BÀI GIẢNG ĐẦU TIÊN CỦA ĐỨC PHẬT

 

Này các vị, sự-luân-chuyển-gồm-ba-quá-trình-sinh-ra-mười-hai-yếu-tố như thế, trước đây ta chưa từng đưa tới cái-thấy-không-phân-biệt về nó. Khi đó, ta chưa là bậc-giác-ngộ-không-so-sánh.

(bản phục hồi SN 56.11)

Ở chương ba, ta đã khảo sát chi tiết về Tứ Diệu Đế để đi tới một kết luận về “bốn điều về dūkkha”. Ta đã biết “bốn điều về dūkkha” có tính gợi mở dẫn dắt nhiều hơn, chứ nó không là yếu tố cốt lõi của bản Kinh Chuyển Pháp Luân. Trong chương bốn, chúng ta sẽ khảo sát để tìm ra yếu tố cốt lõi này; đồng thời phục hồi bản Kinh Chuyển Pháp Luân dựa trên nhiều dữ kiện đã có.

4.1 YẾU TỐ CỐT LÕI TRONG BÀI GIẢNG ĐẦU TIÊN

1) Tên kinh SN 56.11

Bản kinh SN 56.11 (Kinh Chuyển Pháp Luân phiên bản tiếng Pali – Tương Ưng Bộ – 56.11) hiện có tên là Dhammacakkappavattanasutta – Sự khởi động và luân chuyển của bánh xe Pháp. Nguyên nhân của cách đặt tên bản kinh như vậy có lẽ là do từ parivaṭṭaṃ vốn có nghĩa liên quan tới “sự luân chuyển”. Nó liên hệ tới hình ảnh luân chuyển như của bánh xe (cakka) chẳng hạn, và do đó, các nhà biên tập kinh điển đã đưa ra một cái tên kinh như vậy. Vì thế nên nội dung chính của bản kinh có thể liên quan tới “sự luân chuyển”.

2) “tiparivaṭṭaṃ dvādasākāraṃ” là gì?

Bản thân cụm từ “tiparivaṭṭaṃ dvādasākāraṃ” trong bản kinh SN 56.11 được người viết chuyển ngữ là “sự-luân-chuyển-gồm-ba-quá-trình-sinh-ra-mười-hai-yếu-tố”. Trong bản kinh SN 56.11 nó được trình bày theo cấu trúc như sau:

Thánh đế về Khổ này, này các Tỷ-kheo, đối với các pháp từ trước các Như Lai chưa từng được nghe, nhãn sanh, trí sanh, tuệ sanh, minh sanh, quang sanh. Thánh đế về Khổ cần phải liễu tri này, này các Tỷ-kheo, đối với các pháp từ trước đến nay các Như Lai chưa từng được nghe… quang sanh. Thánh đế về Khổ đã được liễu tri này, này các Tỷ-kheo, đối với các pháp… quang sanh.

Như vậy, cấu trúc bản kinh SN 56.11 có hai điểm nói rõ về “sự luân chuyển” là: “cần phải liễu tri” và “đã được liễu tri”. Ngoài ra, ta không thể tìm được sự luân chuyển thứ ba. Nếu xem cụm từ “Thánh đế về Khổ này” là một sự luân chuyển thì nó ít nhiều tối nghĩa, vì một cấu trúc từ như vậy không cho thấy được sự luân chuyển ở chỗ nào.

Tình trạng tối nghĩa như vậy làm ta ít nhiều gặp khó khăn khi truy tìm công thức:

4 (diệu đế) x 3 (sự luân chuyển) = 12.

Ngoài ra, ta thấy trong cụm từ ba chuyển và mười hai hành tướng”tiparivaṭṭadvādasākāraṃ” chỉ nói tới hai con số 3 12. Điểm này làm tăng tính thuyết phục cho nhận xét rằng, sự-luân-chuyển-gồm-ba-quá-trình-sinh-ra-mười-hai-yếu-tố là yếu tố cốt lõi của bản kinh.

Continue reading

Advertisements

Duyên Hợp – tinh túy của đạo Phật (4): chương 3

CHƯƠNG 3 – BÀN VỀ “TỨ DIỆU DẾ”

Này các Kālāmā, chớ có tin vì nghe báo cáo, chớ có tin vì nghe truyền thuyết; chớ có tin vì theo truyền thống; chớ có tin vì được kinh điển truyền tụng; chớ có tin vì lý luận suy diễn; chớ có tin vì diễn giải tương tự; chớ có tin vì đánh giá hời hợt những dữ kiện; chớ có tin vì phù hợp với định kiến; chớ có tin vì phát xuất từ nơi có uy quyền, chớ có tin vì vị sa-môn là bậc đạo sư của mình.

(AN 3.65)

Chương ba bàn về một số sự không thống nhất, cộng với mâu thuẫn và nhầm lẫn trong khái niệm “Tứ Diệu Đế” như được trình bày trong kinh điển còn tồn tại đến ngày nay, để đi tới một số kết luận và giải pháp giúp tháo gỡ được những mâu thuẫn và nhầm lẫn đó.

 

3.1 QUAN NIỆM VỀ DŪKKHA THỜI CỔ ẤN ĐỘ

Như đã biết, trước khi đạo Phật ra đời thì tại Ấn Độ đã có một truyền thống tâm linh lâu đời với nhiều quan điểm và phương pháp tu tập đa dạng trong truyền thống Brāhmaṇa bảo thủ lẫn trong phong trào Śramaṇa đổi mới. Dù có ít nhiều khác biệt nhưng cả hai đều công nhận một số quan niệm chung như sau: các sinh vật kể cả loài người do có hành động (karma) nên bị vướng vào vòng luân hồi (samsāra) và phải trải qua vô số kiếp. Chừng nào còn trong vòng luân hồi thì con người ít nhiều phải có dūkkha (khổ, phiền não, bất toại nguyện…nói chung là những trạng thái không như ý muốn). Vậy làm thế nào để thoát khỏi dūkkha không như ý muốn đó? Ở đây bắt đầu xuất hiện những câu trả lời khác nhau về cách thức thoát khỏi dūkkha, còn gọi là giải thoát (mokśa).

Giới Brāhmaṇa bao gồm cả các nhà Upaniśad quan niệm rằng Tự Ngã hay còn gọi là Linh Hồn (ātman) là bản chất của mỗi con người; theo đó Tự Ngã là trường tồn bất biến, nó không tham gia vào bất cứ hành động nào cũng như không bị ảnh hưởng bởi bất kì hành động nào. Như vậy, không có dūkkha nào có thể ảnh hưởng tới Tự Ngã. Vậy làm sao con người có thể thoát khỏi dūkkha, thoát khỏi luân hồi, nghĩa là đạt giải thoát? Câu trả lời của giới Brāhmaṇa thú vị thay lại rất đơn giản, khác với những triết lí cực kì phực tạp khác của nó: ātman của mỗi người sẽ đi qua vô số kiếp rồi tự động trở về hòa tan với Brahman (Đại Ngã), giống như giọt nước rơi xuống hòa tan vào mặt hồ. Theo quan niệm này thì con người không làm gì hơn được để giải thoát khỏi dūkkha. Vậy thì cứ sống và hưởng thụ các khoái lạc giác quan (kāma) chừng nào còn có thể; đồng thời tôn kính và phục vụ giới Brāhmaṇa có vài trò làm trung gian giữa Brahman tối thượng và ātman của mỗi người. Ta gọi đây là quan niệm “dục ái” (kāmataṇhā).

Hình 13: nơi cư trú của Đức Phật tại tu viện Jetavana, Savatthi

Giới Duy vật luận thuộc phong trào Śramaṇa quan niệm rằng chỉ có những gì cảm nhận được bằng các giác quan mới thực sự tồn tại, còn tất cả những thứ vô hình như Brahman, ātman, luân hồi, giải thoát, đạo đức…đều phi thực và vô nghĩa. Hệ quả là con người cứ sống theo cách sung sướng nhất có thể và chết là hết. Ta gọi đây là quan niệm “hữu ái” (bhavataṇhā).

Giới Khổ hạnh hành xác cũng thuộc phong trào Śramaṇa quan niệm rằng chừng nào con người còn tạo ra hành động (karma) thì chừng đó họ còn bị vướng trong vòng luân hồi chỉ toàn là dūkkha. Nên để đạt giải thoát cần phải chấm dứt mọi hành động kể cả về thân, về lời hay về suy nghĩ. Vì vậy, mục tiêu của các nhà khổ hạnh là tìm mọi cách tiêu diệt hành động; tốt nhất là bằng cách khổ hạnh cho đến chết hoặc tự tử để chấm dứt mọi hành động. Giải thoát đạt được khi chết. Ta gọi đây là quan niệm “phi hữu ái” (vibhavataṇhā).

 

3.2 MÂU THUẪN NỘI TẠI TRONG KINH ĐIỂN ĐẠO PHẬT VỀ TỨ DIỆU ĐẾ

Tứ Diệu Đế ngày nay được xem là khái niệm cơ bản nhất trong đạo Phật, không phân biệt truyền thống nào. Khái niệm Tứ Diệu Đế được đề cập trong Kinh Chuyển Pháp Luân SN 56.11 thuộc truyền thống Thượng Tọa Bộ (Theravāda), ngày nay được xem là bài giảng đầu tiên của Đức Phật, như sau [11]:

Continue reading

Duyên Hợp – tinh túy của đạo Phật (3): chương 2

CHƯƠNG 2 – SƠ NÉT VỀ ĐỨC PHẬT, ĐẠO PHẬT VÀ KINH ĐIỂN ĐẠO PHẬT

 

 

Như sư tử, không động,
An tịnh giữa các tiếng,
Như gió không vướng mắc,
Khi thổi qua màn lưới.
Như hoa sen không dính,
Không bị nước thấm ướt,
Hãy sống riêng một mình
Như tê ngưu một sừng.

(Sn 1.3)

Chương hai cung cấp một số thông tin cơ bản về cuộc đời của Đức Phật; sự hình thành, phát triển và phân hóa của tăng đoàn đạo Phật; đồng thời điểm sơ lược về hệ thống kinh điển trong đạo Phật, đặc biệt là hai hệ kinh điển phổ biến ngày nay trong đạo Phật là hệ kinh điển thời kì bộ phái và hệ kinh điển thời kì Đại thừa.

2.1 CUỘC ĐỜI ĐỨC PHẬT

2.1.1 Trước khi gia nhập phong trào Śramaa

Siddhattha Gotama (Siddhattha nghĩa là “người toại nguyện”) sinh khoảng năm 563 thế kỷ thứ sáu trước công nguyên. Ngài là con của quốc vương Suddhodana điều hành tiểu quốc Śākya ngày nay thuộc biên giới Ấn Độ vàNepal. Mẹ Siddhattha hạ sinh cậu tại Lumbini, ngày nay thuộcNepal, trên đường bà về thăm quê. Một thời gian ngắn sau khi sinh Ngài thì bà mất, và Siddhattha được người dì thay mẹ chăm sóc cho đến khi trưởng thành. Ngày nay, Lumbini trở thành một trong bốn thánh địa hành hương của Phật tử khắp nơi.

Lumbini - Nepal

Hình 04: Lumbini –Nepal

Tác phẩm Đức Phật lịch sử – H. W. Schumann – Thích Nữ Trí Hải dịch – NXB TPHCM 2000 – mô tả cuộc sống của Siddhattha trước khi gia nhập phong trào Śramaṇa như sau (từ trang 70 – 77; người viết bổ sung thêm một số chi tiết):

Dựa trên căn bản Siddhattha suốt đời quan tâm đến các vấn đề thiên về trí tuệ và tinh thần, chúng ta có thể phỏng đoán rằng việc thu thập kiến thức cần thiết cho một thiếu niên quý tộc như cậu là tương đối dễ dàng. Việc giáo dục của Siddhattha có được phần lớn nhờ thường xuyên tham dự các buổi họp hội đồng và phiên tòa xử án, do vua cha Suddhodana chủ tọa. Chúng đã giúp rèn luyện trí thông minh của Siddhattha, dạy cho cậu khả năng biện luận chính xác.

Tuy nhiên, trí thông minh Siddhattha lại phát triển kèm theo một số đặc tính có lẽ đã làm lo ngại vị phụ vương có óc thực tiễn, vì ông xem đó là các dấu hiệu biểu lộ nhược điểm. Những đặc tính này bao gồm tinh thần nhạy cảm và khuynh hướng thiên về suy tư.

Nhận thức rằng cuộc đời không phải lúc nào cũng đem đến lạc thú và đằng sau mọi hạnh phúc (sūkha) đều sẵn có khổ đau (dūkkha) rình rập không phải chỉ đập mạnh vào trí thái tử Siddhattha lần đầu tiên ngay trước khi ngài xuất gia như truyền thuyết vẫn thường kể lại, mà nhận thức ấy đã đến với thái tử từ thời thiếu niên khi cậu còn sống giữa lòng gia đình ấm cúng, tách biệt với những khổ đau bên ngoài.

Ngay trong ngôn ngữ trịnh trọng của kinh điển, ta nhận thấy tác động từ kinh nghiệm đầu đời của Ngài rất chân thật. Trong một xứ cận nhiệt đới, người bạn thân ta vừa vui vẻ chuyện trò hôm nào bỗng thình lình bị cơn sốt rét cướp mất mạng hay bị rắn độc cắn chết, hoặc bị hổ dữ vồ tan xác, các tư tưởng như thế của thái tử Siddhattha có lẽ không mấy xa lạ.

Một đặc tính khác của thái tử được ghi lại trong sử sách là thiếu quan tâm đến lãnh vực quân sự. Mọi thiếu niên thuộc nhóm Kśatriya đều được kì vọng là phải giỏi cỡi ngựa, lái xe, bắn cung, đấu kiếm, đấu vật và điều khiển voi. Có lẽ Siddhattha cũng phải được tập luyện nhiều về các môn này. Song trước sự thất vọng của cả gia tộc, hình như cậu chỉ kha khá trong các hoạt động ấy, đó là điều đáng hổ thẹn đối với một vương tử. Phụ vương Suddhodana chắc hẳn phải rất lo âu trước thái độ không màng đến đời thế tục và việc quân sự của con trai ngài.

Khi thái tử được mười sáu tuổi, phụ vương quyết định ràng buộc vị vương tử hay trầm ngâm này vào đời thế tục bằng cách kết duyên cho chàng. Dĩ nhiên đó là một cuộc hôn nhân được sắp đặt mà đôi bên nam nữ không được hỏi ý kiến, song kinh điển vẫn cho ta thấy không phải hai vị không quyến luyến nhau.

Ta không nên nghĩ rằng đức tân lang trẻ tuổi này không xúc động trước vẻ kiều diễm hấp dẫn của người vợ mình: trong kinh điển thuật lại lời Đức Phật nói một cách thành thạo khi Ngài cho rằng trên đời không có gì trói buộc tâm hồn người đàn ông hơn là người đàn bà. [06]

Continue reading

Duyên Hợp – tinh túy của đạo Phật (2): chương 1

1.5. PHONG TRÀO ŚRAMAA (SA-MÔN)

Tác phẩm Đức Phật lịch sử – H. W. Schumann – Thích Nữ Trí Hải dịch – NXB TPHCM 2000 – mô tả về phong trào này như sau (từ trang 99 – 118; người viết bổ sung thêm một số chi tiết):

Với một dân tộc mang đậm màu sắc tôn giáo như người Ấn Ðộ, và lại hăng say đi tìm kinh nghiệm tâm linh, thì phong trào phản ứng chống đối cách tế lễ của giới Brāhmaṇa theo kinh Veda trong hình thức suy tàn máy móc như vậy là điều không thể nào tránh khỏi. Nó khởi đầu vào thế kỷ thứ bảy trước công nguyên, phổ biến trong các đám thanh niên và đến thế kỷ thứ sáu, đã phát triển thành một phong trào tư tưởng mạnh mẽ gọi chung là phong trào Śramaṇa (sa-môn). Ðó không phải là một cuộc cách mạng, vì nó vẫn giữ tính khoan dung, chỉ chống đối đạo giáo đầy tế lễ ấy qua các cuộc tranh luận công khai. Ðây là một phong trào tư tưởng tự do, tự rời bỏ tôn giáo truyền thống và đi tìm những cứu cánh tâm linh mới, nên nó chấp nhận những con đường mới. Một số con đường ấy sau một thời gian đã trở thành tà đạo không đưa đến đâu cả, còn một số khác lại đưa đến những đỉnh cao chưa từng thấy trước kia. Vào thế kỷ thứ sáu trước công nguyên, người Ấn Ðộ đã đạt tới đỉnh cao triết lý và đạo đức mà vẫn còn giá trị cho đến ngày nay.

Những nhóm người tự giải phóng để đi tìm chân lí có thể được chia thành bốn loại như sau:

1.      Nhóm Upaniśad (Áo Nghĩa Thư).

2.      Nhóm Duy vật luận (Cārvaka).

3.      Nhóm Khổ hạnh hành xác (Tapasvín).

4.      Nhóm du sĩ hành khất.

Trong đó nhóm đầu tiên vẫn dựa trên tư tưởng Veda, còn ba nhóm sau tìm cách thoát hẳn khỏi ảnh hưởng của Veda. Sau này, các nhà Upaniśad được đưa vào truyền thống Hindu bao gồm tất cả các truyền thống tâm linh công nhận tính chính thống của Veda (āstika); còn ba nhóm kia được Hindu gọi là nāstika, nghĩa là những nhóm không công nhận tính chính thống của Veda.

1.5.1 Nhóm Upaniśad (Áo Nghĩa Thư)

Nhóm này đi sát với truyền thống Veda nhất. Xuất hiện từ khoảng năm 700 trước CN và tiếp tục phát triển cho đến mãi về sau. Tư tưởng của họ có nguồn gốc từ các kinh Veda và kinh Brāhmaṇa, nhưng biểu hiện một sự phát triển có tính sáng tạo mà các tư tưởng gia khai sinh chúng mong muốn đối lập với phái chính thống. Vì vậy các môn đồ Upaniśads giữ bí mật các giáo điều họ mới khám phá, đúng như tên các bộ kinh văn của họ: Upa-ni-śad nghĩa là “ngồi với ai” để bí truyền giáo lý cho người đó.

Continue reading

Duyên Hợp – tinh túy của đạo Phật (1): chương 1

MỤC LỤC

 

Lời nói đầu

 

Chương 1 – Ấn Độ cổ đại thời Đức Phật

1.1 Chính trị

1.2 Kinh tế

1.3 Văn hóa

1.4 Tôn giáo – truyền thống Brāhmaṇa

1.5 Phong trào Śramaṇa

1.5.1 Nhóm Upaniśad (Áo Nghĩa Thư)

1.5.2 Nhóm Duy vật luận (Lokāyata)

1.5.3 Nhóm Khổ hạnh hành xác (Tapasvín)

1.5.4 Nhóm Du sĩ khất thực

1.6 Phương pháp của truyền thống Brāhmaṇa

Chương 2 – Sơ nét về Đức Phật, đạo Phật và kinh điển đạo Phật

2.1 Cuộc đời Đức Phật

2.1.1 Trước khi gia nhập phong trào Śramaṇa

2.1.2 Tham gia phong trào Śramaṇa

2.1.3 Thành đạo và giảng pháp

2.1.4 Đặc trưng của đạo Phật

2.2 Đạo Phật sau thời Đức Phật

2.2.1 Sự phân chia trong tăng đoàn thời Đức Phật

2.2.2 Sự tan rã của tăng đoàn nguyên thủy

2.2.3 Đạo Phật bộ phái và đạo Phật đại thừa

2.3 Hệ thống kinh điển đạo Phật

2.3.1 Kinh điển đạo Phật đã được hình thành như thế nào?

2.3.2 Đặc điểm của hai hệ thống kinh điển cơ bản

2.3.3 Một số bản kinh Ghandāra cổ

Chương 3 – Bàn về “Tứ Diệu Đế”

3.1 Quan niệm về dūkkha thời cổ Ấn Độ

3.2 Mâu thuẫn nội tại trong kinh điển đạo Phật về Tứ Diệu Đế

3.3 “Diệt dūkkha” hay “diệt nguyên nhân của dūkkha”?

3.4 Quan điểm của các bộ phái về Tứ Diệu Đế

3.5 Một số quan điểm của giới Phật học về Tứ Diệu Đế

3.6 Kết luận

Chương 4 – Bài giảng đầu tiên của Đức Phật

4.1 Yếu tố cốt lõi trong bài giảng đầu tiên

4.2 Phương pháp phục hồi bản Kinh Chuyển Pháp Luân SN 56.11

4.3 Các thuật ngữ quan trọng trong bản phục hồi SN 56.11

4.4. Kinh Như Lai giảng về “Sự luân chuyển gồm ba quá trình sinh ra mười hai yếu tố”

4.5 Tương quan giữa “Sự luân chuyển gồm ba quá trình sinh ra mười hai yếu tố” và Duyên Hợp

Chương 5 – Duyên Hợp – Tinh túy của đạo Phật

5.1 Ý nghĩa của Duyên Hợp

5.1.1 Sinh paccayā (duyên) Chết đồng thời Chết paccayā (duyên) Sinh

5.1.2 A paccayā B (A duyên B)

5.1.3 Kết luận

5.2 Thời gian, sự chuyển động, không gian, đối tượng và Duyên Hợp

5.2.1 Thời gian – sự chuyển động

5.2.2 Sự chuyển động – không gian – thời gian

5.2.3 Không gian – đối tượng

5.2.4 Đối tượng

5.2.5 Kết luận

5.3 Duyên Hợp và một số hiện tượng truyền thống

5.3.1 Nhân Quả

5.3.2 Luân hồi

5.4 Duyên Hợp và vật lí

5.4.1 Cơ học cổ điển

5.4.2 Cơ học lượng tử

5.5 Duyên Hợp trong cuộc sống

Phụ lục

Phụ lục 1: Đặc điểm của đạo Hindu – đạo Jain – đạo Phật ở thế kỉ thứ 6 – 5 TCN

Phụ lục 2: Cấu trúc của 17 phiên bản Kinh Chuyển Pháp Luân

Phụ lục 3: Phân tích về công thức 12 nhân duyên

 

Tài liệu tham khảo

 

 

DUYÊN HỢP – TINH TÚY CỦA ĐẠO PHẬT

 

Lời nói đầu

Từ bài giảng đầu tiên Đức Phật dành cho năm vị tỳ-kheo, đã hơn hai ngàn năm trôi qua. Biết bao thế hệ Phật tử cả tu sĩ và cư sĩ đã đi theo lời dạy của Ngài, tự nương tựa nơi mình, lấy mình làm hải đảo, để hướng tới một cuộc sống tốt đẹp, hướng tới giác ngộ. Người viết cũng thấy mình may mắn có duyên tiếp cận, học hỏi và thực tập theo những lời dạy của bậc giác ngộ ấy.

Trải qua một thời gian rất dài hình thành, phát triển với nhiều thăng trầm, nhờ bao công sức của tiền nhân, ngày nay người Phật tử có cơ hội thuận tiện để tiếp cận với lượng kinh điển đạo Phật đồ sộ được các truyền thống khác nhau bảo tồn, chứa nhiều nội dung phong phú.

Bên cạnh đó, sự phong phú trong kinh điển cũng ít nhiều gây khó khăn cho người Phật tử khi tìm hiểu những lời dạy của Đức Phật. Bởi có một thực tế là nội dung các kinh điển của các truyền thống đôi khi khác biệt nhau khá lớn; và trong từng truyền thống các thì kinh điển đôi khi cũng không thống nhất. Điều này làm người Phật tử, trong đó có người viết, gặp ít nhiều khó khăn khi muốn tìm hiểu đâu là điều cốt lõi trong lời dạy của Đức Phật.

Continue reading

Mừng sinh nhật

Một góc thiền viện Bát Nhã, Bảo Lộc, Lâm Đồng

Hôm nay là sinh nhật của một người. Để mình kể lại vài chuyện trong cuộc đời của vị này cho mọi người đọc, biết đâu thêm được vài thông tin nho nhỏ.

Ông sinh ra trong một gia đình danh giá, cha ông rất kì vọng ông sẽ nối nghiệp mình nhưng ngay từ nhỏ ông đã có thiên hướng khác. Khi đến tuổi trưởng thành thiên hướng riêng của ông càng bộc lộ rõ ràng hơn, và cha ông rất buồn.

Một ngày kia, ông đã rời gia đình, rời cha mẹ, vợ con để theo đuổi thiên hướng của mình. Ông đã đi nhiều nơi để học hỏi rồi sau đó tự mình làm việc. Thật không may là ông đã mất sáu năm sống vô cùng cực khổ nhưng vẫn thất bại. Ông phải tìm hướng đi khác và sau đó ông đã thành công.

Sau này ông trở nên nổi tiếng, được nhiều người ngưỡng mộ. Nhưng cũng có nhiều kẻ rất ghét ông, thóa mạ ông không tiếc lời, dùng đủ mọi cách để làm mất thanh danh của ông. Thậm chí, chính một người thân cận với ông đã tìm cách giết hại ông! Khi ông qua đời, một học trò của ông đã nói đại để, từ nay mình có thể làm gì mình muốn mà không sợ ông rầy nữa!

“Ông” là ai? “Ông” chính là Thái tử Siddhārtha (Tất Đạt Đa), là sa môn Gautama (Cồ Đàm), là Tathāgata (Như Lai), là Đức Phật hay Bụt Đà của chúng ta vốn có nghĩa rất giản dị là Bậc Giác Ngộ hay Người Tỉnh Thức. Và hôm nay là ngày Phật Đản, ngày Bậc Giác Ngộ ra đời.

Qua vài chuyện kể trên, chúng ta thấy ngay cả Đức Phật mà cũng gặp rất nhiều trở ngại, thành ra như mình đây gặp trở ngại cũng là chuyện thường thôi mà! Nhân dịp Đức Phật đản sinh, xin kính chúc mọi người thân tâm an lành. Trân trọng.

Ngày Phật Đản, Phật lịch 2554

Kan