Paul Krugman – Thị trường cũng có thể rất, rất sai

Muller, Mendelsohn, and Nordhaus mới công bố một công trình đáng làm nhân tố chính trong cách thức chúng ta bàn về tư tưởng kinh tế học trên tạp chí American Economic Review. Hẳn nhiên là công trình này sẽ không được đánh giá đúng mực, nhưng dù gì đi nữa hãy để tôi phác họa trường hợp này.

Cái mà ba nhà nghiên cứu trên làm là ước lượng chi phí của ô nhiễm không khí lên đời sống xã hội, rồi phân phối chi phí này cho các ngành kinh tế. Dù vậy, chi phí được tính ở đây không bao gồm mối nguy trong dài hạn do biến đối khí hậu. Họ đo lường mức độ tác động của ô nhiễm tới sức khỏe và  năng suất, trong đó hệ quả quan trọng nhất lí giải bằng cách nào mà các chất gây ô nhiễm – nhất là các bụi nhỏ – ảnh hưởng tới sức khỏe con người. Họ dùng ước lượng chuẩn xử lí số liệu của tỉ lệ tử vong và tỉ lệ bệnh tật để chuyển đổi chúng thành chi phí tiền bạc.

Continue reading

Advertisements

Duyên Hợp – tinh túy của đạo Phật (3): chương 2

CHƯƠNG 2 – SƠ NÉT VỀ ĐỨC PHẬT, ĐẠO PHẬT VÀ KINH ĐIỂN ĐẠO PHẬT

 

 

Như sư tử, không động,
An tịnh giữa các tiếng,
Như gió không vướng mắc,
Khi thổi qua màn lưới.
Như hoa sen không dính,
Không bị nước thấm ướt,
Hãy sống riêng một mình
Như tê ngưu một sừng.

(Sn 1.3)

Chương hai cung cấp một số thông tin cơ bản về cuộc đời của Đức Phật; sự hình thành, phát triển và phân hóa của tăng đoàn đạo Phật; đồng thời điểm sơ lược về hệ thống kinh điển trong đạo Phật, đặc biệt là hai hệ kinh điển phổ biến ngày nay trong đạo Phật là hệ kinh điển thời kì bộ phái và hệ kinh điển thời kì Đại thừa.

2.1 CUỘC ĐỜI ĐỨC PHẬT

2.1.1 Trước khi gia nhập phong trào Śramaa

Siddhattha Gotama (Siddhattha nghĩa là “người toại nguyện”) sinh khoảng năm 563 thế kỷ thứ sáu trước công nguyên. Ngài là con của quốc vương Suddhodana điều hành tiểu quốc Śākya ngày nay thuộc biên giới Ấn Độ vàNepal. Mẹ Siddhattha hạ sinh cậu tại Lumbini, ngày nay thuộcNepal, trên đường bà về thăm quê. Một thời gian ngắn sau khi sinh Ngài thì bà mất, và Siddhattha được người dì thay mẹ chăm sóc cho đến khi trưởng thành. Ngày nay, Lumbini trở thành một trong bốn thánh địa hành hương của Phật tử khắp nơi.

Lumbini - Nepal

Hình 04: Lumbini –Nepal

Tác phẩm Đức Phật lịch sử – H. W. Schumann – Thích Nữ Trí Hải dịch – NXB TPHCM 2000 – mô tả cuộc sống của Siddhattha trước khi gia nhập phong trào Śramaṇa như sau (từ trang 70 – 77; người viết bổ sung thêm một số chi tiết):

Dựa trên căn bản Siddhattha suốt đời quan tâm đến các vấn đề thiên về trí tuệ và tinh thần, chúng ta có thể phỏng đoán rằng việc thu thập kiến thức cần thiết cho một thiếu niên quý tộc như cậu là tương đối dễ dàng. Việc giáo dục của Siddhattha có được phần lớn nhờ thường xuyên tham dự các buổi họp hội đồng và phiên tòa xử án, do vua cha Suddhodana chủ tọa. Chúng đã giúp rèn luyện trí thông minh của Siddhattha, dạy cho cậu khả năng biện luận chính xác.

Tuy nhiên, trí thông minh Siddhattha lại phát triển kèm theo một số đặc tính có lẽ đã làm lo ngại vị phụ vương có óc thực tiễn, vì ông xem đó là các dấu hiệu biểu lộ nhược điểm. Những đặc tính này bao gồm tinh thần nhạy cảm và khuynh hướng thiên về suy tư.

Nhận thức rằng cuộc đời không phải lúc nào cũng đem đến lạc thú và đằng sau mọi hạnh phúc (sūkha) đều sẵn có khổ đau (dūkkha) rình rập không phải chỉ đập mạnh vào trí thái tử Siddhattha lần đầu tiên ngay trước khi ngài xuất gia như truyền thuyết vẫn thường kể lại, mà nhận thức ấy đã đến với thái tử từ thời thiếu niên khi cậu còn sống giữa lòng gia đình ấm cúng, tách biệt với những khổ đau bên ngoài.

Ngay trong ngôn ngữ trịnh trọng của kinh điển, ta nhận thấy tác động từ kinh nghiệm đầu đời của Ngài rất chân thật. Trong một xứ cận nhiệt đới, người bạn thân ta vừa vui vẻ chuyện trò hôm nào bỗng thình lình bị cơn sốt rét cướp mất mạng hay bị rắn độc cắn chết, hoặc bị hổ dữ vồ tan xác, các tư tưởng như thế của thái tử Siddhattha có lẽ không mấy xa lạ.

Một đặc tính khác của thái tử được ghi lại trong sử sách là thiếu quan tâm đến lãnh vực quân sự. Mọi thiếu niên thuộc nhóm Kśatriya đều được kì vọng là phải giỏi cỡi ngựa, lái xe, bắn cung, đấu kiếm, đấu vật và điều khiển voi. Có lẽ Siddhattha cũng phải được tập luyện nhiều về các môn này. Song trước sự thất vọng của cả gia tộc, hình như cậu chỉ kha khá trong các hoạt động ấy, đó là điều đáng hổ thẹn đối với một vương tử. Phụ vương Suddhodana chắc hẳn phải rất lo âu trước thái độ không màng đến đời thế tục và việc quân sự của con trai ngài.

Khi thái tử được mười sáu tuổi, phụ vương quyết định ràng buộc vị vương tử hay trầm ngâm này vào đời thế tục bằng cách kết duyên cho chàng. Dĩ nhiên đó là một cuộc hôn nhân được sắp đặt mà đôi bên nam nữ không được hỏi ý kiến, song kinh điển vẫn cho ta thấy không phải hai vị không quyến luyến nhau.

Ta không nên nghĩ rằng đức tân lang trẻ tuổi này không xúc động trước vẻ kiều diễm hấp dẫn của người vợ mình: trong kinh điển thuật lại lời Đức Phật nói một cách thành thạo khi Ngài cho rằng trên đời không có gì trói buộc tâm hồn người đàn ông hơn là người đàn bà. [06]

Continue reading

Paul Krugman – Quy luật lịch sử

Kevin O’Rourke sau khi theo dõi vài điều tôi viết đã cãi rằng để làm kinh tế vĩ mô cho tốt thì phải phụ thuộc ít nhiều vào vốn hiểu biết về lịch sử kinh tế. Tất nhiên là vậy rồi.

Dù gì thì ông đã đúng khi cho rằng Obstfeld, Rogoff và cả bạn, hẳn tất cả đều có lợi lúc học với Charles Kindleberger hay với Peter Temin. Nhưng chưa hết. Cố giáo sư Rudi Dornbusch, người mà tôi đoan chắc từng khuyên nhủ hết thảy chúng ta, có dấu ấn lớn góp vào lợi ích của việc nghiên cứu lịch sử.

Tôi vẫn nhớ lời cố giáo sư khuyên lúc tôi bắt đầu tìm đề tài luận văn. Ông giục tôi (và có lẽ các sinh viên khác nữa) tạm dừng đọc tài liệu kinh tế học thời bấy giờ, đồng thời dừng tìm các điểm lập đi lập lại trong những mô hình kinh tế thời thượng khi đó. Ông nói tốt hơn là bỏ ra vài tháng đọc thật nhiều lịch sử kinh tế cộng với cập nhật tin tức hiện thời, để tìm ra vấn đề thực tiễn cũng như kinh nghiệm thực tiễn cần lí giải.

Continue reading

Paul Krugman – Kinh tế học còn tiến triển hay không?

Vài giờ nữa Sylvia Nasar cùng tôi sẽ có cuộc đối thoại xoay quanh cuốn sách mới The Grand Pursuit của cô trước cử tọa tại 92nd Street Y. Nó trình bày chân dung hấp dẫn về các nhà sáng lập ra ngành kinh tế học. (Irving Fisher đã tạo ra Rolodex?) Nhưng tôi phải thừa nhận là trong khi đọc cuốn sách này thì tôi đã tự hỏi rằng có thật là có nhiều điều đáng để mừng hay không.

Tôi chưa bao giờ thích nói kinh tế học là một thuật ngữ “khoa học”, bởi ngành này còn quá thô sơ và chưa hoàn thiện để có thể sánh đôi một cách tự nhiên với những ngành như hóa học hay sinh học. Nói chung là khi ai đó nói về kinh tế học như thể nó là khoa học thì tôi ngay lập tức ngờ rằng mình đang nghe lời nói của những người không biết rằng mô hình chỉ là mô hình mà thôi. Tuy vậy, lúc trẻ hơn bây giờ tôi khá tin tưởng kinh tế học là lĩnh vực đang tiến triển theo thời gian và thế hệ sau sẽ biết được nhiều hơn thế hệ trước.

Continue reading

Duyên Hợp – tinh túy của đạo Phật (2): chương 1

1.5. PHONG TRÀO ŚRAMAA (SA-MÔN)

Tác phẩm Đức Phật lịch sử – H. W. Schumann – Thích Nữ Trí Hải dịch – NXB TPHCM 2000 – mô tả về phong trào này như sau (từ trang 99 – 118; người viết bổ sung thêm một số chi tiết):

Với một dân tộc mang đậm màu sắc tôn giáo như người Ấn Ðộ, và lại hăng say đi tìm kinh nghiệm tâm linh, thì phong trào phản ứng chống đối cách tế lễ của giới Brāhmaṇa theo kinh Veda trong hình thức suy tàn máy móc như vậy là điều không thể nào tránh khỏi. Nó khởi đầu vào thế kỷ thứ bảy trước công nguyên, phổ biến trong các đám thanh niên và đến thế kỷ thứ sáu, đã phát triển thành một phong trào tư tưởng mạnh mẽ gọi chung là phong trào Śramaṇa (sa-môn). Ðó không phải là một cuộc cách mạng, vì nó vẫn giữ tính khoan dung, chỉ chống đối đạo giáo đầy tế lễ ấy qua các cuộc tranh luận công khai. Ðây là một phong trào tư tưởng tự do, tự rời bỏ tôn giáo truyền thống và đi tìm những cứu cánh tâm linh mới, nên nó chấp nhận những con đường mới. Một số con đường ấy sau một thời gian đã trở thành tà đạo không đưa đến đâu cả, còn một số khác lại đưa đến những đỉnh cao chưa từng thấy trước kia. Vào thế kỷ thứ sáu trước công nguyên, người Ấn Ðộ đã đạt tới đỉnh cao triết lý và đạo đức mà vẫn còn giá trị cho đến ngày nay.

Những nhóm người tự giải phóng để đi tìm chân lí có thể được chia thành bốn loại như sau:

1.      Nhóm Upaniśad (Áo Nghĩa Thư).

2.      Nhóm Duy vật luận (Cārvaka).

3.      Nhóm Khổ hạnh hành xác (Tapasvín).

4.      Nhóm du sĩ hành khất.

Trong đó nhóm đầu tiên vẫn dựa trên tư tưởng Veda, còn ba nhóm sau tìm cách thoát hẳn khỏi ảnh hưởng của Veda. Sau này, các nhà Upaniśad được đưa vào truyền thống Hindu bao gồm tất cả các truyền thống tâm linh công nhận tính chính thống của Veda (āstika); còn ba nhóm kia được Hindu gọi là nāstika, nghĩa là những nhóm không công nhận tính chính thống của Veda.

1.5.1 Nhóm Upaniśad (Áo Nghĩa Thư)

Nhóm này đi sát với truyền thống Veda nhất. Xuất hiện từ khoảng năm 700 trước CN và tiếp tục phát triển cho đến mãi về sau. Tư tưởng của họ có nguồn gốc từ các kinh Veda và kinh Brāhmaṇa, nhưng biểu hiện một sự phát triển có tính sáng tạo mà các tư tưởng gia khai sinh chúng mong muốn đối lập với phái chính thống. Vì vậy các môn đồ Upaniśads giữ bí mật các giáo điều họ mới khám phá, đúng như tên các bộ kinh văn của họ: Upa-ni-śad nghĩa là “ngồi với ai” để bí truyền giáo lý cho người đó.

Continue reading

Duyên Hợp – tinh túy của đạo Phật (1): chương 1

MỤC LỤC

 

Lời nói đầu

 

Chương 1 – Ấn Độ cổ đại thời Đức Phật

1.1 Chính trị

1.2 Kinh tế

1.3 Văn hóa

1.4 Tôn giáo – truyền thống Brāhmaṇa

1.5 Phong trào Śramaṇa

1.5.1 Nhóm Upaniśad (Áo Nghĩa Thư)

1.5.2 Nhóm Duy vật luận (Lokāyata)

1.5.3 Nhóm Khổ hạnh hành xác (Tapasvín)

1.5.4 Nhóm Du sĩ khất thực

1.6 Phương pháp của truyền thống Brāhmaṇa

Chương 2 – Sơ nét về Đức Phật, đạo Phật và kinh điển đạo Phật

2.1 Cuộc đời Đức Phật

2.1.1 Trước khi gia nhập phong trào Śramaṇa

2.1.2 Tham gia phong trào Śramaṇa

2.1.3 Thành đạo và giảng pháp

2.1.4 Đặc trưng của đạo Phật

2.2 Đạo Phật sau thời Đức Phật

2.2.1 Sự phân chia trong tăng đoàn thời Đức Phật

2.2.2 Sự tan rã của tăng đoàn nguyên thủy

2.2.3 Đạo Phật bộ phái và đạo Phật đại thừa

2.3 Hệ thống kinh điển đạo Phật

2.3.1 Kinh điển đạo Phật đã được hình thành như thế nào?

2.3.2 Đặc điểm của hai hệ thống kinh điển cơ bản

2.3.3 Một số bản kinh Ghandāra cổ

Chương 3 – Bàn về “Tứ Diệu Đế”

3.1 Quan niệm về dūkkha thời cổ Ấn Độ

3.2 Mâu thuẫn nội tại trong kinh điển đạo Phật về Tứ Diệu Đế

3.3 “Diệt dūkkha” hay “diệt nguyên nhân của dūkkha”?

3.4 Quan điểm của các bộ phái về Tứ Diệu Đế

3.5 Một số quan điểm của giới Phật học về Tứ Diệu Đế

3.6 Kết luận

Chương 4 – Bài giảng đầu tiên của Đức Phật

4.1 Yếu tố cốt lõi trong bài giảng đầu tiên

4.2 Phương pháp phục hồi bản Kinh Chuyển Pháp Luân SN 56.11

4.3 Các thuật ngữ quan trọng trong bản phục hồi SN 56.11

4.4. Kinh Như Lai giảng về “Sự luân chuyển gồm ba quá trình sinh ra mười hai yếu tố”

4.5 Tương quan giữa “Sự luân chuyển gồm ba quá trình sinh ra mười hai yếu tố” và Duyên Hợp

Chương 5 – Duyên Hợp – Tinh túy của đạo Phật

5.1 Ý nghĩa của Duyên Hợp

5.1.1 Sinh paccayā (duyên) Chết đồng thời Chết paccayā (duyên) Sinh

5.1.2 A paccayā B (A duyên B)

5.1.3 Kết luận

5.2 Thời gian, sự chuyển động, không gian, đối tượng và Duyên Hợp

5.2.1 Thời gian – sự chuyển động

5.2.2 Sự chuyển động – không gian – thời gian

5.2.3 Không gian – đối tượng

5.2.4 Đối tượng

5.2.5 Kết luận

5.3 Duyên Hợp và một số hiện tượng truyền thống

5.3.1 Nhân Quả

5.3.2 Luân hồi

5.4 Duyên Hợp và vật lí

5.4.1 Cơ học cổ điển

5.4.2 Cơ học lượng tử

5.5 Duyên Hợp trong cuộc sống

Phụ lục

Phụ lục 1: Đặc điểm của đạo Hindu – đạo Jain – đạo Phật ở thế kỉ thứ 6 – 5 TCN

Phụ lục 2: Cấu trúc của 17 phiên bản Kinh Chuyển Pháp Luân

Phụ lục 3: Phân tích về công thức 12 nhân duyên

 

Tài liệu tham khảo

 

 

DUYÊN HỢP – TINH TÚY CỦA ĐẠO PHẬT

 

Lời nói đầu

Từ bài giảng đầu tiên Đức Phật dành cho năm vị tỳ-kheo, đã hơn hai ngàn năm trôi qua. Biết bao thế hệ Phật tử cả tu sĩ và cư sĩ đã đi theo lời dạy của Ngài, tự nương tựa nơi mình, lấy mình làm hải đảo, để hướng tới một cuộc sống tốt đẹp, hướng tới giác ngộ. Người viết cũng thấy mình may mắn có duyên tiếp cận, học hỏi và thực tập theo những lời dạy của bậc giác ngộ ấy.

Trải qua một thời gian rất dài hình thành, phát triển với nhiều thăng trầm, nhờ bao công sức của tiền nhân, ngày nay người Phật tử có cơ hội thuận tiện để tiếp cận với lượng kinh điển đạo Phật đồ sộ được các truyền thống khác nhau bảo tồn, chứa nhiều nội dung phong phú.

Bên cạnh đó, sự phong phú trong kinh điển cũng ít nhiều gây khó khăn cho người Phật tử khi tìm hiểu những lời dạy của Đức Phật. Bởi có một thực tế là nội dung các kinh điển của các truyền thống đôi khi khác biệt nhau khá lớn; và trong từng truyền thống các thì kinh điển đôi khi cũng không thống nhất. Điều này làm người Phật tử, trong đó có người viết, gặp ít nhiều khó khăn khi muốn tìm hiểu đâu là điều cốt lõi trong lời dạy của Đức Phật.

Continue reading

Sodium Saccharin – Đường hóa học

Lâu lâu lại thấy một số vị gõ tìm kiếm cụm từ “sodium saccharin” và vào trang này, nên tôi xin viết vài dòng vắn tắt để quí vị có thêm ít nhiều thông tin cho biết sodium sacccharin là gì.

Đường hóa học

Ở xứ mình, cụm từ “đường hóa học” rất phổ biến, theo nghĩa xấu là độc hại. Khi nói đường hóa học thì ta đang nói đến rất nhiều loại hóa chất khác nhau có cùng một công dụng là tạo vị ngọt (artificial sweetener). Đặc điểm đơn giản nhất của chúng là độ ngọt gấp hàng trăm lần đường mía (sucrose) thông thường. Ví dụ, 1kg đường hóa học saccharin có độ ngọt bằng 300 kg đường mía.

Sodium Saccharin - một loại đường hóa học

Có rất nhiều loại đường hóa học có mặt trong thực phẩm đang lưu hành tại Việt Nam hiện nay; tôi xin kể ra đây một số loại quen thuộc để quí vị khi cần đọc nhãn sản phẩm biết được chúng là đường hóa học: saccharin, cyclamate, aspartame, acesulfame K, isomalt, sorbitol. Đặc biệt, Xylitol – một loại đường hóa học – được lấy làm tên của một nhãn kẹo chewing gum có tên tuổi tại thị trường Việt Nam.

Continue reading