Paul Krugman – Quy luật lịch sử

Kevin O’Rourke sau khi theo dõi vài điều tôi viết đã cãi rằng để làm kinh tế vĩ mô cho tốt thì phải phụ thuộc ít nhiều vào vốn hiểu biết về lịch sử kinh tế. Tất nhiên là vậy rồi.

Dù gì thì ông đã đúng khi cho rằng Obstfeld, Rogoff và cả bạn, hẳn tất cả đều có lợi lúc học với Charles Kindleberger hay với Peter Temin. Nhưng chưa hết. Cố giáo sư Rudi Dornbusch, người mà tôi đoan chắc từng khuyên nhủ hết thảy chúng ta, có dấu ấn lớn góp vào lợi ích của việc nghiên cứu lịch sử.

Tôi vẫn nhớ lời cố giáo sư khuyên lúc tôi bắt đầu tìm đề tài luận văn. Ông giục tôi (và có lẽ các sinh viên khác nữa) tạm dừng đọc tài liệu kinh tế học thời bấy giờ, đồng thời dừng tìm các điểm lập đi lập lại trong những mô hình kinh tế thời thượng khi đó. Ông nói tốt hơn là bỏ ra vài tháng đọc thật nhiều lịch sử kinh tế cộng với cập nhật tin tức hiện thời, để tìm ra vấn đề thực tiễn cũng như kinh nghiệm thực tiễn cần lí giải.

Continue reading

Paul Krugman – Kinh tế học còn tiến triển hay không?

Vài giờ nữa Sylvia Nasar cùng tôi sẽ có cuộc đối thoại xoay quanh cuốn sách mới The Grand Pursuit của cô trước cử tọa tại 92nd Street Y. Nó trình bày chân dung hấp dẫn về các nhà sáng lập ra ngành kinh tế học. (Irving Fisher đã tạo ra Rolodex?) Nhưng tôi phải thừa nhận là trong khi đọc cuốn sách này thì tôi đã tự hỏi rằng có thật là có nhiều điều đáng để mừng hay không.

Tôi chưa bao giờ thích nói kinh tế học là một thuật ngữ “khoa học”, bởi ngành này còn quá thô sơ và chưa hoàn thiện để có thể sánh đôi một cách tự nhiên với những ngành như hóa học hay sinh học. Nói chung là khi ai đó nói về kinh tế học như thể nó là khoa học thì tôi ngay lập tức ngờ rằng mình đang nghe lời nói của những người không biết rằng mô hình chỉ là mô hình mà thôi. Tuy vậy, lúc trẻ hơn bây giờ tôi khá tin tưởng kinh tế học là lĩnh vực đang tiến triển theo thời gian và thế hệ sau sẽ biết được nhiều hơn thế hệ trước.

Continue reading

Duyên Hợp – tinh túy của đạo Phật (2): chương 1

1.5. PHONG TRÀO ŚRAMAA (SA-MÔN)

Tác phẩm Đức Phật lịch sử – H. W. Schumann – Thích Nữ Trí Hải dịch – NXB TPHCM 2000 – mô tả về phong trào này như sau (từ trang 99 – 118; người viết bổ sung thêm một số chi tiết):

Với một dân tộc mang đậm màu sắc tôn giáo như người Ấn Ðộ, và lại hăng say đi tìm kinh nghiệm tâm linh, thì phong trào phản ứng chống đối cách tế lễ của giới Brāhmaṇa theo kinh Veda trong hình thức suy tàn máy móc như vậy là điều không thể nào tránh khỏi. Nó khởi đầu vào thế kỷ thứ bảy trước công nguyên, phổ biến trong các đám thanh niên và đến thế kỷ thứ sáu, đã phát triển thành một phong trào tư tưởng mạnh mẽ gọi chung là phong trào Śramaṇa (sa-môn). Ðó không phải là một cuộc cách mạng, vì nó vẫn giữ tính khoan dung, chỉ chống đối đạo giáo đầy tế lễ ấy qua các cuộc tranh luận công khai. Ðây là một phong trào tư tưởng tự do, tự rời bỏ tôn giáo truyền thống và đi tìm những cứu cánh tâm linh mới, nên nó chấp nhận những con đường mới. Một số con đường ấy sau một thời gian đã trở thành tà đạo không đưa đến đâu cả, còn một số khác lại đưa đến những đỉnh cao chưa từng thấy trước kia. Vào thế kỷ thứ sáu trước công nguyên, người Ấn Ðộ đã đạt tới đỉnh cao triết lý và đạo đức mà vẫn còn giá trị cho đến ngày nay.

Những nhóm người tự giải phóng để đi tìm chân lí có thể được chia thành bốn loại như sau:

1.      Nhóm Upaniśad (Áo Nghĩa Thư).

2.      Nhóm Duy vật luận (Cārvaka).

3.      Nhóm Khổ hạnh hành xác (Tapasvín).

4.      Nhóm du sĩ hành khất.

Trong đó nhóm đầu tiên vẫn dựa trên tư tưởng Veda, còn ba nhóm sau tìm cách thoát hẳn khỏi ảnh hưởng của Veda. Sau này, các nhà Upaniśad được đưa vào truyền thống Hindu bao gồm tất cả các truyền thống tâm linh công nhận tính chính thống của Veda (āstika); còn ba nhóm kia được Hindu gọi là nāstika, nghĩa là những nhóm không công nhận tính chính thống của Veda.

1.5.1 Nhóm Upaniśad (Áo Nghĩa Thư)

Nhóm này đi sát với truyền thống Veda nhất. Xuất hiện từ khoảng năm 700 trước CN và tiếp tục phát triển cho đến mãi về sau. Tư tưởng của họ có nguồn gốc từ các kinh Veda và kinh Brāhmaṇa, nhưng biểu hiện một sự phát triển có tính sáng tạo mà các tư tưởng gia khai sinh chúng mong muốn đối lập với phái chính thống. Vì vậy các môn đồ Upaniśads giữ bí mật các giáo điều họ mới khám phá, đúng như tên các bộ kinh văn của họ: Upa-ni-śad nghĩa là “ngồi với ai” để bí truyền giáo lý cho người đó.

Continue reading

Duyên Hợp – tinh túy của đạo Phật (1): chương 1

MỤC LỤC

 

Lời nói đầu

 

Chương 1 – Ấn Độ cổ đại thời Đức Phật

1.1 Chính trị

1.2 Kinh tế

1.3 Văn hóa

1.4 Tôn giáo – truyền thống Brāhmaṇa

1.5 Phong trào Śramaṇa

1.5.1 Nhóm Upaniśad (Áo Nghĩa Thư)

1.5.2 Nhóm Duy vật luận (Lokāyata)

1.5.3 Nhóm Khổ hạnh hành xác (Tapasvín)

1.5.4 Nhóm Du sĩ khất thực

1.6 Phương pháp của truyền thống Brāhmaṇa

Chương 2 – Sơ nét về Đức Phật, đạo Phật và kinh điển đạo Phật

2.1 Cuộc đời Đức Phật

2.1.1 Trước khi gia nhập phong trào Śramaṇa

2.1.2 Tham gia phong trào Śramaṇa

2.1.3 Thành đạo và giảng pháp

2.1.4 Đặc trưng của đạo Phật

2.2 Đạo Phật sau thời Đức Phật

2.2.1 Sự phân chia trong tăng đoàn thời Đức Phật

2.2.2 Sự tan rã của tăng đoàn nguyên thủy

2.2.3 Đạo Phật bộ phái và đạo Phật đại thừa

2.3 Hệ thống kinh điển đạo Phật

2.3.1 Kinh điển đạo Phật đã được hình thành như thế nào?

2.3.2 Đặc điểm của hai hệ thống kinh điển cơ bản

2.3.3 Một số bản kinh Ghandāra cổ

Chương 3 – Bàn về “Tứ Diệu Đế”

3.1 Quan niệm về dūkkha thời cổ Ấn Độ

3.2 Mâu thuẫn nội tại trong kinh điển đạo Phật về Tứ Diệu Đế

3.3 “Diệt dūkkha” hay “diệt nguyên nhân của dūkkha”?

3.4 Quan điểm của các bộ phái về Tứ Diệu Đế

3.5 Một số quan điểm của giới Phật học về Tứ Diệu Đế

3.6 Kết luận

Chương 4 – Bài giảng đầu tiên của Đức Phật

4.1 Yếu tố cốt lõi trong bài giảng đầu tiên

4.2 Phương pháp phục hồi bản Kinh Chuyển Pháp Luân SN 56.11

4.3 Các thuật ngữ quan trọng trong bản phục hồi SN 56.11

4.4. Kinh Như Lai giảng về “Sự luân chuyển gồm ba quá trình sinh ra mười hai yếu tố”

4.5 Tương quan giữa “Sự luân chuyển gồm ba quá trình sinh ra mười hai yếu tố” và Duyên Hợp

Chương 5 – Duyên Hợp – Tinh túy của đạo Phật

5.1 Ý nghĩa của Duyên Hợp

5.1.1 Sinh paccayā (duyên) Chết đồng thời Chết paccayā (duyên) Sinh

5.1.2 A paccayā B (A duyên B)

5.1.3 Kết luận

5.2 Thời gian, sự chuyển động, không gian, đối tượng và Duyên Hợp

5.2.1 Thời gian – sự chuyển động

5.2.2 Sự chuyển động – không gian – thời gian

5.2.3 Không gian – đối tượng

5.2.4 Đối tượng

5.2.5 Kết luận

5.3 Duyên Hợp và một số hiện tượng truyền thống

5.3.1 Nhân Quả

5.3.2 Luân hồi

5.4 Duyên Hợp và vật lí

5.4.1 Cơ học cổ điển

5.4.2 Cơ học lượng tử

5.5 Duyên Hợp trong cuộc sống

Phụ lục

Phụ lục 1: Đặc điểm của đạo Hindu – đạo Jain – đạo Phật ở thế kỉ thứ 6 – 5 TCN

Phụ lục 2: Cấu trúc của 17 phiên bản Kinh Chuyển Pháp Luân

Phụ lục 3: Phân tích về công thức 12 nhân duyên

 

Tài liệu tham khảo

 

 

DUYÊN HỢP – TINH TÚY CỦA ĐẠO PHẬT

 

Lời nói đầu

Từ bài giảng đầu tiên Đức Phật dành cho năm vị tỳ-kheo, đã hơn hai ngàn năm trôi qua. Biết bao thế hệ Phật tử cả tu sĩ và cư sĩ đã đi theo lời dạy của Ngài, tự nương tựa nơi mình, lấy mình làm hải đảo, để hướng tới một cuộc sống tốt đẹp, hướng tới giác ngộ. Người viết cũng thấy mình may mắn có duyên tiếp cận, học hỏi và thực tập theo những lời dạy của bậc giác ngộ ấy.

Trải qua một thời gian rất dài hình thành, phát triển với nhiều thăng trầm, nhờ bao công sức của tiền nhân, ngày nay người Phật tử có cơ hội thuận tiện để tiếp cận với lượng kinh điển đạo Phật đồ sộ được các truyền thống khác nhau bảo tồn, chứa nhiều nội dung phong phú.

Bên cạnh đó, sự phong phú trong kinh điển cũng ít nhiều gây khó khăn cho người Phật tử khi tìm hiểu những lời dạy của Đức Phật. Bởi có một thực tế là nội dung các kinh điển của các truyền thống đôi khi khác biệt nhau khá lớn; và trong từng truyền thống các thì kinh điển đôi khi cũng không thống nhất. Điều này làm người Phật tử, trong đó có người viết, gặp ít nhiều khó khăn khi muốn tìm hiểu đâu là điều cốt lõi trong lời dạy của Đức Phật.

Continue reading

Sodium Saccharin – Đường hóa học

Lâu lâu lại thấy một số vị gõ tìm kiếm cụm từ “sodium saccharin” và vào trang này, nên tôi xin viết vài dòng vắn tắt để quí vị có thêm ít nhiều thông tin cho biết sodium sacccharin là gì.

Đường hóa học

Ở xứ mình, cụm từ “đường hóa học” rất phổ biến, theo nghĩa xấu là độc hại. Khi nói đường hóa học thì ta đang nói đến rất nhiều loại hóa chất khác nhau có cùng một công dụng là tạo vị ngọt (artificial sweetener). Đặc điểm đơn giản nhất của chúng là độ ngọt gấp hàng trăm lần đường mía (sucrose) thông thường. Ví dụ, 1kg đường hóa học saccharin có độ ngọt bằng 300 kg đường mía.

Sodium Saccharin - một loại đường hóa học

Có rất nhiều loại đường hóa học có mặt trong thực phẩm đang lưu hành tại Việt Nam hiện nay; tôi xin kể ra đây một số loại quen thuộc để quí vị khi cần đọc nhãn sản phẩm biết được chúng là đường hóa học: saccharin, cyclamate, aspartame, acesulfame K, isomalt, sorbitol. Đặc biệt, Xylitol – một loại đường hóa học – được lấy làm tên của một nhãn kẹo chewing gum có tên tuổi tại thị trường Việt Nam.

Continue reading

tiền – sử – tàu – Dân

Tiền

Hãy bắt đầu từ tiền, cho nó gần gũi. Hãy nói về tiền giấy, cho nó gần gũi hơn nữa với người xứ mình. Trên tờ bạc Mỹ mệnh giá lớn nhất là 100 đô có in hình cụ Benjamin Franklin. Trên tờ bạc Nhật mệnh giá lớn nhất là 10000 yên có in hình cụ Fukuyawa Yukichi.

Hai nhân vật này có đóng góp quan trọng trong lịch sử hiện đại của Mỹ và Nhật. Điểm chung thứ nhất là họ đều là những người đa năng, trong cuộc đời đã đóng góp vào nhiều lĩnh vực khác nhau. Điểm chung thứ hai là họ đều làm chính trị, theo những cách thức khác nhau. Điểm chung thứ ba là họ không bao giờ là nguyên thủ quốc gia. Bởi thế mà không biết tình cờ hãy hữu ý, hai nước đều chọn họ làm hình ảnh in trên đồng bạc có mệnh giá lớn nhất, và đó là điểm chung thứ tư.

Mỹ và Nhật là hai nước giàu nhất nhì thế giới. Chả biết chuyện này có liên quan gì tới hai vị có trong hai tờ bạc to nhất vừa kể trên không!

Sử

Xã hội lại một lần nữa khóc than cho cái vốn hiểu biết lịch sử nước nhà của học sinh trung học. Tôi xin hỏi…xã hội mấy câu:

– Ai dạy sử cho học sinh? Thầy cô giáo phải không!

– Ai dạy sử cho thầy cô giáo? Thầy cô của thầy cô giáo phải không!

 – Ai dạy sử cho thầy cô của thầy cô giáo? Thầy cô của thầy cô của thầy cô giáo phải không!

v.v.

Cứ truy ngược như thế, hẳn cuối cùng ta đã biết ai dạy sử cho học sinh. Gọi là “tổ sư” đi, cho nó đậm đà bản sắc truyền thống dân tộc Kinh có pha tạp chút Tàu, nhỉ!

Continue reading

Linh tinh chuyện làng xã

Có cái xã nọ tên gọi là Lĩnh Nôm. Nó ở kề bên cái xã Đại Háng to vật, mà ông xã trưởng Đại Háng có nói là “núi liền núi sông liền sông mở ngoặc còn cái ao Đông là của ông đóng ngoặc”.

Trong cái xã Lĩnh Nôm, có hai cái làng to nhất, là làng Nội và làng Ngoại. Cái tên làng Nội thì rõ rồi; còn cái tên làng Ngoại là do hội đồng chức sắc xã đặt cho. Làng Ngoại hồi xưa bị mang tiếng kéo mấy tay bạch tạng người xã Hoa Dị vô, làm bà con làng Nội phải xách dao xách rựa đi đuổi. Hai bên oánh nhau cháy nhà cháy xóm cháy rơm cháy rạ cháy tre cháy măng. Xong. Bạch tạng rút về Hoa Dị. Hai làng Nội và Ngoại ngồi đếm xác nhau coi thử ông nào ít ông nào nhiều. Xác dân làng Nội được mang vô nghĩa trang xã cho dân xã viếng thăm quanh năm. Xác dân làng Ngoại được mang đi đâu cũng không rõ, có ai thăm viếng hay không cũng không rõ.

Đó là chuyện hồi xưa. Bây giờ nói chuyện nay, nói chuyện thời hậu điên dại, à không, hậu hiện đại chơi. Làng Nội là nơi chức sắc xã tụ về. Cái hay là hầu hết các chức sắc xã đều thích tiệc, nên cu (đính chính: xin độc giả hiểu “cu” nghĩa là “cụ”, do lỗi in ấn.) nào muốn làm chức sắc đều phải nhập tiệc. Mọi việc công của xã đều được giải quyết trên bàn tiệc. Hay chứ!

Continue reading