Đạo Phật và Khoa học (07) – Tính chất tôn giáo trong duy vật luận khoa học

Bìa sách "Buddhism and Science"

Phần tổng quan vừa rồi về giáo thuyết trọng tâm của trong duy vật luận khoa học đã cho thấy rất rõ tính giáo điều của nó, giờ đã vượt xa địa hạt khoa học thực nghiệm. Cụ thể là trong thế kỉ hai mươi, duy vật luận khoa học đã chứa đựng tính chất của tôn giáo. Như trong diễn giải của Wilson về chủ thuyết này, ông đã nhắc nhiều đến mục đích, ý nghĩa và giá trị con người vốn là những thứ Stephen Jay Gould cho là chỉ thuộc lĩnh vực tôn giáo.Wilson cũng viết rất dài về mục đích và ý nghĩa cuộc đời, nguồn gốc và định mệnh tối hậu, những trải nghiệm trong đời sống nội tâm của chúng ta, cũng là những thứ Langdon Gilkey gắn cho tôn giáo. Biên giới giữa khoa học và tôn giáo đã biến mất trong duy vật luận khoa học, một loại tôn giáo mới được đưa ra nhằm thay thế cho tất cả mọi tôn giáo truyền thống. Nó tôn sùng, kính sợ, và cống hiến cho một thực thể thiêng liêng giờ không còn là Thượng Đế hay sự giác ngộ tâm linh mà là thế giới vật chất tồn tại siêu việt, nghĩa là “vượt ngoài đầu óc chúng ta”. Nói khác đi, duy vật luận khoa học như một mẫu hình hiện đại của tôn giáo tự nhiên (nature religion) vốn đã có vô số tiền lệ trong suốt thời tiền sử của nhân loại (Goodenough 1998; Wallace 2000: 30 – 39).

Tuy vậy Edward Wilson lại muốn làm chúng ta tin điều ngược lại. Ông cho rằng mọi tôn giáo truyền thống thực tế đều có tính di truyền (hereditary), “thúc đẩy chúng sinh ra thông qua việc định hướng phát triển cho tinh thần vốn được mã hóa trong gene” (257). Trong tác phẩm của ông có rất ít dữ kiện làm ta tin rằng ông nhận thức được chủ thuyết của mình về cái duy vật luận khoa học giáo điều này là vốn xuất phát từ hệ tiền đề thần học theo truyền thống Thiên Chúa Giáo (2000: 41 – 56). Ông quan niệm bộ não con người tiến hóa để tin vào thượng đế chứ không tiến hóa để tin vào sinh học. Cơ sở thực chứng cho luận điểm này là trong suốt lịch sử nhân loại đã ghi lại chứng cứ cho thấy loài người tin vào Thượng Đế hay thần thánh, trong khi ngành sinh học mới nổi lên vài thế kỉ nay. Nhưng không có chứng cứ nào cho thấy niềm tin của loài người vào thần thánh xuất hiện trước khi não người phát triển ngôn ngữ kí hiệu, mà khả năng phát triển loại ngôn ngữ này hiện vẫn chưa được giải thích theo quan điểm chọn lọc tự nhiên. Vậy thì nếu việc sử dụng ngôn ngữ kí hiệu không thể giải nghĩa được theo thuyết tiến hóa, kiểu như là có cái gì đó được mã hóa trong gene, thì hoàn toàn tương tự cho khía cạnh tôn giáo. Wilson đã lờ đi thực tế trên, và trong khi ông tự cho mình là đại biểu của chủ nghĩa thực chứng chống lại thuyết tiên nghiệm (transcendentalism), nhưng khi bàn về nguồn gốc của sinh vật học, thì ông lại trình bày một cách sai lạc đề tài này, như thể là một bí ẩn không thể lí giải bằng các quy luật tự nhiên của thuyết tiến hóa! Trong khi ông gắng sức tự nhiên hóa tôn giáo bằng cách gán nó vào thuyết tiến hóa thì ông lại siêu việt sinh vật học khi đặt ngành này trên cả các quy luật tiến hóa. Đây rõ ràng là một bước thần thánh hóa lĩnh vực khoa học chuyên môn của bản thân mà ông hết lần này đến lần khác khẳng định rằng nó nắm giữ chìa khóa gợi mở những vấn đề sâu xa nhất của nhân sinh.

Để tránh mối ngờ hoặc rằng mình đang đưa duy vật luận khoa học lên thành một loại tôn giáo tự nhiên mới, Wilson đã trau chuốt chỗ này rất rành mạch, “nếu những chuyện kể thiêng liêng không thể có trong vũ trụ học tôn giáo, thì nó sẽ được lấy ra từ lịch sử về mặt vật chất của vũ trụ cũng như của loài người. Xu thế này không thể có cách nào khác được. Thiên sử thi tiến hóa đích thực khi được kể lại bằng thơ ca thực chất cũng cao quí như bất cứ sử thi tôn giáo nào. Thực tại vật chất được khám phá bởi khoa học còn có nhiều nội dung và tính vĩ đại hơn tất cả các hệ vũ trụ học tôn giáo gộp lại”. (265)

Ông không những chủ trương quan điểm tách rời giữa khoa học và tôn giáo mà còn có biến đổi không chút mập mờ sang một kiểu giáo điều mới, thể hiện qua cách biến đổi ban đầu của ông từ Thiên Chúa Giáo chính thống sang khoa học luận (scientism). Ông xác nhận là kiểu biến đổi như thế “không thể tiếp nhận bởi lí luận thuần túy, mà hiện giờ chỉ có một bước đột phá trong niềm tin mới đưa ta từ chỗ này sang chỗ kia” (238). Ông khích lệ độc giả rằng giá trị trong tương lai của bước đột phá trong niềm tin rồi sẽ đạt được qua sự tích lũy dần các chứng cứ khách quan do giới khoa học tìm ra, trong đó giới sinh vật học dẫn đầu. Vậy là giá trị tối hậu của giáo điều này tùy thuộc vào trách nhiệm của các nhà sinh vật tương lai, khi đó sẽ đóng vai trò cứu tinh cứu rỗi nhân loại thoát khỏi ngu dốt và ảo tưởng.

Wilson thừa nhận ông không chỉ đại diện cho duy vật luận khoa học mà cho cả khoa học luận (11) là nhánh có vẻ chính thống nhất trong hệ tôn giáo tự nhiên này. Cũng giống như những nhà theo tư tưởng chính thống trong tôn giáo trên khắp thế giới, Wilson tuyên bố rằng hệ niềm tin ông theo đuổi là cách duy nhất để hiểu được thực tại, là chìa khóa giải quyết tất cả các vấn đề của nhân loại.  Ông viết rằng nếu không có công cụ và kiến thức tích lũy được về khoa học tự nhiên, “con người sẽ bị giam trong nhà tù nhận thức, như những con cá thông minh trong hồ nước sâu tối tăm… Họ tạo ra những phỏng đoán tài tình, những truyền thuyết về nguồn gốc của cái ao tù, của bầu trời, mặt trời, các vì sao trên cao, cả về ý nghĩa sự tồn tại của chính họ. Nhưng họ đã sai, luôn luôn sai, bởi cái thế giới đó qua cô lập so với kinh nghiệm thông thường để mà tưởng tượng ra được chút gì có nghĩa.” (45)

Không phải là làm giảm đi giá trị những tiến bộ vượt bậc của khoa học đã rọi sáng tường tận thế giới hiện tượng vật chất khách quan, mà ta cần phải thấy rằng khoa học vẫn còn để chúng ta trong bóng tối trước thế giới hiện tượng tinh thần chủ quan. Triết gia John Searle thừa nhận “Bất chấp tính kiêu ngạo hiện thời về những gì ta đã biết, bất kể ngành khoa học của chúng ta có chắc chắn và phổ quát bao nhiêu đi nữa, thì chỗ nào có đề cập tới trí óc thì điểm đặc trưng là ta thường lúng túng và bất đồng” (Searle 1994:247).Wilson đã lờ đi thiếu sót đó khi cho rằng trước khi khoa học bắt đầu phát sinh thì chỉ có “những khoảng thời gian vụn vặt kéo dài hàng nghìn năm, với những huyền thoại, những vũ trụ quan sai lạc đè nặng lên lương tri nhân loại” (67). Rằng nếu nhân loại chỉ tận hiến duy nhất cho vai trò dẫn dắt của khoa học, thì “chúng ta càng lúc sẽ tiến gần tới chân lí khách quan. Khi điều ấy xảy ra, siêu hình học dựa trên sự ngu muội sẽ dần lùi xa, giống như con quỷ đứng trước cây thập giá đang dựng lên” (62).

Nói ngắn gọn theo quan điểm của Wilson là khi không có khoa học thì “Chưa từng có cái gì thật sự có nghĩa, từ truyền thuyết cho tới sự mặc khải, nghệ thuật hay thiền định đều không thể chấp nhận được; bất kể thuyết thần bí đã mang lại thỏa mãn cho xúc cảm, thì trước khi có khoa học cái thứ máy dò tìm kiến thức chưa biết đó chỉ mang lại con số không” (46). Nếu ai đó được cung cấp thông tin về sự nghiệp của một khoa học gia thực nghiệm ngoại hạng như Wilson, họ có thể hy vọng rằng kết luận của ông về một chủ đề rất quan trọng là cơ chế sâu xa nhất của trải nghiệm tôn giáo, sẽ dựa trên dẫn chứng thực nghiệm có tính thuyết phục. Nhưng thật không may là sự nhiệt thành với loại phúc âm riêng của bản thân đã làm Wilson gạt hẳn mọi ý định nghiên cứu chủ đề trên một cách khách quan, chặt chẽ và thấu đáo. Làm bộ như mình uyên bác về lĩnh vực tôn giáo đối chiếu, ông viết “Trong mỗi truyền thống tôn giáo…trạng thái sáng suốt…được diễn tả bởi thiền định Ấn giáo, cái ngộ của Thiền tông Phật giáo, sự tận diệt trong Hồi giáo, vô vi trong Lão giáo, sự phục sinh trong Thiên Chúa giáo Ngũ tuần (Pentacostal Christian rebirth). Giống như những pháp sư thời tiền sử gây ra ảo giác vậy” (260). Kết luận vội vàng vừa rồi là dẫn chứng duy nhất trong sách của Wilson cho thấy ông cũng để ý tới sự hiện diện của những truyền thống tâm linh phi Tây phương. Do bị Wilson đánh giá bằng cách gom giới học giả tâm linh lại một cách thiếu chính xác và đánh đồng họ với những pháp sư thời tiền sử như vừa nêu, những vị này sẽ thiên về ý kiến rằng Wilson đã hoàn toàn phớt lờ họ.

Trong khi suy luận khoa học định hình dựa trên việc quan sát cẩn thận, phân tích chặt chẽ và tinh thần cởi mở, cho phép bất kì ai chất vấn ngay cả giả định ưa thích nhất của người khác, thì những tiêu chí mẫu mực trên dường như thiếu vắng rành rành trong biện hộ của Wilson cho duy vật luận khoa học. Dù truyền thống khoa học chứa cả hai yếu tố – khoa học thực nghiệm và duy vật luận khoa học giáo điều như kiểu tôn giáo tự nhiên – nhưng nếu dán nhãn cho khoa học là một tôn giáo nói chung là lầm lạc. Tương tự vậy trong đạo Phật, có cả yếu tố suy luận chặt chẽ dựa trên trải nghiệm và phân tích lí tính lẫn yếu tố hiển nhiên có tính tôn giáo. Nếu như phân loại khoa học như là một kiểu tôn giáo – bất chấp sự kết nối thường thấy giữa khoa học và duy vật luận khoa học – là sai lạc, thì cũng thật sai lạc nếu xếp đạo Phật thuộc tôn giáo mà bỏ qua những yếu tố khoa học và triết lí của nó. Nếu ta thừa nhận rằng tồn tại một khoa học đạo Phật thì không có nghĩa là nó sẽ thay thế khoa học hiện đại. Đạo Phật không có những lí thuyết não bộ phức tạp hay phương pháp khám phá bộ não, cũng không chia tách bất cứ kiến thức khách quan về thực thể nào để đối chiếu với vật lí, hóa học hay sinh học hiện đại. Mặt khác thì khoa học hiện đại chưa đưa được chúng ta ra khỏi bóng tối để thấy được bản chất cũng như tiềm năng của ý thức (consciousness), của trải nghiệm có tính chủ thể trong mối tương quan với thế giới khách thể, của việc mưu cầu một đời sống có nghĩa và toàn vẹn. Một khi khoa học được giải phóng khỏi xiềng xích ý thức hệ của duy vật luận khoa học, hình thức suy luận cởi mở của nó có thể bổ sung cho phương pháp suy luận trong đạo Phật cũng như các truyền thống chiêm nghiệm cổ xưa khác.

Dịch: Kan

Leave a Reply

Fill in your details below or click an icon to log in:

WordPress.com Logo

You are commenting using your WordPress.com account. Log Out / Change )

Twitter picture

You are commenting using your Twitter account. Log Out / Change )

Facebook photo

You are commenting using your Facebook account. Log Out / Change )

Google+ photo

You are commenting using your Google+ account. Log Out / Change )

Connecting to %s