Ấn Độ như tui thấy (Phần 1)

Đầu tiên xin nói về cái tựa đề, “Ấn Độ như tui thấy”. Chả là thời buổi này thì tự mình đặt “tít” nhiều khi nó không ăn thua, nên tui phải ăn theo người nổi tiếng thì nó mới ăn thua. Người nổi tiếng ở đây là ông Albert Einstein, và cái tít nổi tiếng của ổng là The world as I see it.

Đất Ấn

Lang thang chỗ này chỗ kia trên đất Ấn, tui thấy đất nước này có một đặc điểm khá riêng biệt, đó là, cái cũ và cái mới, truyền thống và hiện đại, bảo thủ và đổi mới, chúng đan xen vào nhau và dễ dàng nhận thấy khắp nơi.

Continue reading

Advertisements

Đạo Phật và Khoa học (07) – Tính chất tôn giáo trong duy vật luận khoa học

Bìa sách "Buddhism and Science"

Phần tổng quan vừa rồi về giáo thuyết trọng tâm của trong duy vật luận khoa học đã cho thấy rất rõ tính giáo điều của nó, giờ đã vượt xa địa hạt khoa học thực nghiệm. Cụ thể là trong thế kỉ hai mươi, duy vật luận khoa học đã chứa đựng tính chất của tôn giáo. Như trong diễn giải của Wilson về chủ thuyết này, ông đã nhắc nhiều đến mục đích, ý nghĩa và giá trị con người vốn là những thứ Stephen Jay Gould cho là chỉ thuộc lĩnh vực tôn giáo.Wilson cũng viết rất dài về mục đích và ý nghĩa cuộc đời, nguồn gốc và định mệnh tối hậu, những trải nghiệm trong đời sống nội tâm của chúng ta, cũng là những thứ Langdon Gilkey gắn cho tôn giáo. Biên giới giữa khoa học và tôn giáo đã biến mất trong duy vật luận khoa học, một loại tôn giáo mới được đưa ra nhằm thay thế cho tất cả mọi tôn giáo truyền thống. Nó tôn sùng, kính sợ, và cống hiến cho một thực thể thiêng liêng giờ không còn là Thượng Đế hay sự giác ngộ tâm linh mà là thế giới vật chất tồn tại siêu việt, nghĩa là “vượt ngoài đầu óc chúng ta”. Nói khác đi, duy vật luận khoa học như một mẫu hình hiện đại của tôn giáo tự nhiên (nature religion) vốn đã có vô số tiền lệ trong suốt thời tiền sử của nhân loại (Goodenough 1998; Wallace 2000: 30 – 39).

Continue reading

Đạo Phật và Khoa học – Tính không và thuyết lượng tử (Phần 2)

Bìa sách "Buddhism and Science"

THẮNG PHÁP (ABHIDHARMA)

Khảo luận tôi đề cập về lời dạy của Đức Phật ở phần trước chưa đầy đủ mấy. Chẳng hạn tôi chưa nói gì về giải thoát và con đường dẫn tới giải thoát cả. Tuy vậy những kiến thức đã đề cập cung cấp một nền tảng tương đối đủ để ta so sánh tính không với thuyết lượng tử.

Trong vòng vài thế kỉ sau cái chết của Đức Phật lịch sử, nhiều trường phái Phật giáo sơ kì đã phát triển những diễn giải rất phức tạp về tâm và vật, được gọi là Thắng Pháp. Thắng Pháp tiếp cận thế giới theo hướng phân tích, trong đó sinh vật sống và thực thể vật chất không được coi là thực thể cơ bản nhất (unitary entities), mà là tập hợp từ những đơn vị nền tảng gọi là dharma (nghĩa là “pháp” –Kan). Từ dharma trong tiếng Phạn có nhiều nghĩa, chẳng hạn “luật lệ”, “lời dạy của Đức Phật”. Còn từ dharma tôi đang dùng trong ngữ cảnh bài này có nghĩa là “hiện tượng vật chất và tinh thần”. Dharma là hiện tượng có tính phi cá nhân, đồng thời chỉ hiện tượng hoặc vật chất hoặc tinh thần.

Từ dharma dùng theo nghĩa hiện tượng vật chất hay tinh thần cơ bản đã được dùng trước khi các tập Thắng Pháp xuất hiện. Những văn bản ghi lại lời dạy của Đức Phật truyền lại đến nay, gọi là Sūtra (nghĩa là “kinh” –Kan), có nói tới dharma, chắc là vì để truyền đạt được quan niệm vô ngã thì cần phải tính tới chuyện tiếp cận trải nghiệm của người ta sao cho tránh nhắc tới khái niệm về bản ngã. Theo thời gian, khuynh hướng tự nhiên xảy ra là chi tiết hóa những lời dạy ghi lại trong kinh Phật để phát triển những diễn giải, những phân loại mọi vật dựa trên dharma. Có vài mong muốn còn tham vọng hơn nữa, là tìm cách lí giải mọi sự vật cùng với liên hệ giữa chúng dựa theo dharma. Mong muốn này đã thúc đẩy việc hoàn thiện bức tranh của đạo Phật về thế giới, và có thể đã giúp hình thành nên Thắng Pháp một cách hệ thống.

Continue reading

Này công dân ơi!

Lâu rồi mới thấy mọi người sôi nổi, nhân chuyện tàu Trung Quốc đem kéo vào cắt cái của quí của ta, là sợi cáp của tàu thăm dò Bình Minh. Thôi thì cũng múa bàn phím loạn xạ chút đỉnh, bởi xã tắc hưng vong thì cái thằng Kan thất phu thất học, một công dân của đất nước này, cũng thấy mình có tẹo trách nhiệm.

(Chú: từ “Trung Quốc” dùng trong bài này là chỉ chính quyền nước cộng hòa nhân dân Trung Hoa, chứ không chỉ bất kì người Trung Quốc hay có gốc gác Trung Quốc nào.)

Lịch sử chủ quyền của hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa

Tổng quan về lịch sử chủ quyền hai quần đảo này, quí vị có thể xem tại Wikipedia. Khi nào tiện tôi sẽ dịch ra. Nhìn chung là, bằng chứng của Trung Quốc là mơ hồ, trong khi bằng chứng của Việt Nam là rõ ràng.

Đại Nam nhất thống toàn đồ (vẽ năm 1838) có Hoàng Sa và Trường Sa

Đường lưỡi bò

Hay còn gọi là đường chữ U, đường chín đoạn. Thông tin tổng quan quí vị có thể xem ở đây. Nói gọn là, năm 1947 chính quyền Đài Loan vẽ bản đồ có cái đường lưỡi bò này, tuyên bố chủ quyền phần lớn biển Đông. Sau này Trung Quốc xài lại cái lưỡi này để tuyên bố chủ quyền trên biển Đông. Dựa trên cơ sở pháp lí nào mà chính quyền Trung Quốc và Đài Loan tuyên bố như vậy? Nói gọn là, lưỡi bò dựa trên luật rừng!

Tranh chấp chủ quyền trên hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa

Hiệp định Geneve 1954 phân đôi Việt Nam thành hai miền, VNDCCH hay Bắc Việt và VNCH hay Nam Việt, lấy vĩ tuyến 17 làm ranh giới. Hai quần đảo này nằm dưới vĩ tuyến 17 nên thuộc về lãnh thổ của VNCH. Năm 1958, Trung Quốc ra tuyên bố về lãnh hải 12 hải lí trong đó gồm cả hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa. Ngay sau đó, thủ tướng VNDCCH bấy giờ là ông Phạm Văn Đồng gửi công hàm công nhận tuyên bố của Trung Quốc về lãnh hải.

Continue reading