Đạo Phật và Khoa học – Tính không và thuyết lượng tử (Phần 1)

Bìa sách “Buddhism and Science”

Tác giả: William L. Ames

Tính không (Śūnyatā) là khái niệm cốt lõi trong đạo Phật, nhất là trong Phật giáo Đại thừa (Māhayāna); còn thuyết lượng tử là trung tâm của vật lí hiện đại. Tính không vốn không có nghĩa “không tồn tại”, mà là, vạn vật kể cả bản thân mỗi người chúng ta thì không có tự tính (independent identity) nào mà ta hay nghĩ là mình có. Thuyết lượng tử đã thay thế quan niệm cơ giới về tự nhiên của nền vật lí thế kỉ mười chín, bằng những quan niệm ngày càng không tương thích với chủ nghĩa duy thực ngây thơ (naïve realism). Để biết những quan niệm của đôi bên có điểm gì chung hay không, trước tiên ta hãy đề cập đến đạo Phật.

SƠ NÉT VỀ ĐẠO PHẬT

Cuộc đời của Đức Phật (khoảng 560 – 480 trước công nguyên) thuộc giai đoạn có nhiều thay đổi về chính trị và xã hội trong vùng bắc Ấn Độ. Việc dùng đồ sắt dẫn tới dân số gia tăng, con người trở nên giàu có hơn nhờ dùng rìu sắt để khai hoang rừng rậm, dùng lưỡi cày sắt để mở rộng diện tích đất canh tác. Đô thị mọc lên, các đại vương quốc thay thế dần những vương quốc nhỏ và những nước cộng hòa kiểu quí tộc (aristocratic republics). Quá trình đô thị hóa cùng với biến đổi xã hội đã tạo ra bất hòa, chống đối cùng nghi vấn về những nghi thức tôn giáo cổ truyền. Trong môi trường như thế đã sinh sôi ra nhiều giáo huấn mới về tôn giáo cũng như triết lí. Học thuyết của Áo nghĩa thư (Upaniṣad) đã biến đổi sâu sắc một tôn giáo mà ngày nay ta gọi là Ấn Độ giáo; và trong số những trường phái mới sinh ra tại thời điểm đó, đạo Phật sau này đã trở thành một truyền thống tâm linh lớn trên thế giới.

Yếu tố cơ bản trong lời dạy của Đức Phật là về nỗi khổ thường trực trong đời sống cùng với con đường dẫn đến chấm dứt khổ đau. Chân Lí Màu Nhiệm Thứ Nhất trong đạo Phật bàn về nỗi khổ thường bị diễn dịch sai rằng đời sống chỉ toàn nỗi khổ, một lối diễn dịch trái ngược với những kinh nghiệm thường nhật. Thật ra Đức Phật nói rằng mọi hiện tượng có điều kiện (conditioned phenomena) đều vô thường, thậm chí cả cảm giác thỏa mãn hay hạnh phúc cũng là nguyên nhân gây phiền não nên chúng cần được biến đổi, triệt tiêu đi. Ngay cả trải nghiệm trung tính vốn không đau đớn không an lạc cũng gây phiền não do chính tính điều kiện (conditionedness) của chúng kéo bản ngã giả định của ta vào một mạng lưới nguyên nhân và điều kiện phức tạp bất cứ khi nào ta cố hành động.

Một lời dạy nổi tiếng nữa của Đức Phật là mọi hiện tượng đều “không có bản ngã” hay “không phải là bản ngã’ (anātman). Trong trường hợp nói về loài người, điều này có nghĩa là cơ thể hay tinh thần của bất kì ai đều không phải là bản ngã, và chúng cũng không chịu sự chi phối của một bản ngã nào hết. Khái niệm bản ngã thực tế hơi khó nắm bắt. Dù nhiều khi chúng ta định hình chính mình bằng thể xác, hay suy nghĩ, cảm xúc hoặc trạng thái tinh thần khác, thì có lúc ta lại nói về thể xác “của tôi”, suy nghĩ “của tôi”, cảm xúc “của tôi” v.v., ngụ ý rằng bản ngã là một cái gì đó tách biệt với thể xác, suy nghĩ hay cảm xúc, là một cái gì đó sở hữu chúng. Chúng ta có thể hình dung về một bản ngã không có một trong số các trạng thái vừa nêu, nhưng không thể thiếu tất cả được.

Trong nhà Phật thân và tâm được xem là một dòng các sự kiện vật chất cũng như tinh thần có tính vô thường. Thân xác liên tục biến đổi và già đi trong khi tinh thần cùng với quan niệm, suy nghĩ, cảm xúc v.v. của nó thì biến đổi trong từng khoảnh khắc. Thân tâm như một dòng sông. Dòng sông cứ chảy nhưng ta không thể chỉ ra được cụ thể bất cứ một cái gì bất biến trong đó. Dòng chảy tự nó không phải là một vật gì cụ thể, nó liên tục thay đổi.

Thân và tâm không chịu sự kiểm soát của một bản ngã bởi chúng vô thường, và bởi sự thay đổi của chúng còn tùy thuộc vào nhiều nguyên nhân nhiều điều kiện mà không ít trong số này là độc lập với cái mà bản ngã mong muốn. Hơn nữa, hầu hết Phật tử tin rằng không có một bản ngã nào tách biệt với thân tâm mà lại kiểm soát được thân tâm. Khi ta quan sát chính mình, ta chỉ thấy được hiện tượng vật chất hoặc hiện tượng tinh thần mà ta gọi là thân và tâm. Vì thế không có bằng chứng nào về một bản ngã khác biệt với tâm và thân, một bản ngã không phải tâm cũng chẳng phải thân thì vô nghĩa.

DUYÊN KHỞI

Theo đạo Phật thì thân tâm chúng ta cùng với thế giới bên ngoài tâm thân được cấu thành bởi các hiện tượng vô thường và biến đổi. Tư tưởng này rất gần với sự nhấn mạnh vào tính nhân quả trong nhà Phật. Xét một mặt thì mọi vật phụ thuộc vào nguyên nhân và điều kiện chi phối quá trình thay đổi, do các yếu tố thuộc nguyên nhân cũng liên tục biến đổi. Mặt khác, nhân quả tạo ra thứ bậc giúp tính nhất thời của hiện tượng không rơi vào trạng thái hỗn loạn, tùy tiện. Chẳng hạn nếu có điều kiện cần là đất, nước và hơi ấm thì hạt thóc sẽ nảy ra thành mầm cây lúa nước, nhưng lại không bao giờ thành cây lúa mạch cả.

Nhân quả trong nhà Phật được diễn tả dựa trên nguyên lí duyên khởi (pratiyasamutpāda), thường thấy trong công thức gồm mười hai yếu tố kế tiếp nhau khởi đầu từ vô minh, hành, thông qua ái, cho đến già, chết. Tuy vậy, diễn đạt chung nhất của duyên khởi có dạng như thế này: “Cái này tồn tại thì cái kia tồn tại; vì cái này nảy sinh nên cái kia nảy sinh. Khi cái này không tồn tại thì cái kia không tồn tại; bởi sự vắng mặt của cái này nên cái kia vắng mặt.”

Nói cách khác là, nếu A là một điều kiện cần của B thì sự hiện diện của B phụ thuộc, hay được tạo điều kiện, bởi sự hiện diện của A. nếu A không tồn tại thì B không thể tồn tại. (Ta cần lưu tâm trong đạo Phật để sinh ra một kết quả bất kì thì cần có nhiều nguyên nhân.) Trở lại với ví dụ truyền thống về cây lúa thì hạt thóc được coi là nhân duyên (hetu) của cây lúa, còn những yếu tố cần thiết như đất, mùn, hơi ấm v.v. gọi là trợ duyên (pratyaya). Cây lúa chỉ nảy mầm khi tất cả các duyên cần thiết cho sự tồn tại của cây lúa xuất hiện. Còn nếu các duyên không cùng lúc hiện diện thì cây lúa không sinh ra.

Duyên khởi có liên hệ với vấn đề vô ngã. Thế giới cấu thành từ các hiện tượng vô thường, nhưng mà hiện tượng từ quá khứ tới hiện tại lại liên quan tới nguyên lí duyên khởi. Quan hệ nhân quả giữa quá khứ và hiện tại tạo ra một mức độ cho tính liên tục và tính khả dĩ của cái bất biến tương đối. Nghĩa là do tính quy luật trong nhân quả mà sự vật đôi lúc được duy trì, bởi những thay đổi là không đáng kể. Đó là loại thay đổi mà ta có thể bỏ qua trong hoạt động đời sống thường ngày. Vì vậy mà nhờ duyên khởi, tính vô thường rất nghiêm ngặt có thể hòa hợp với tính cố định cùng tính quy luật của sự vật ta quan sát theo kinh nghiệm thường ngày. Nhìn chung giới Phật tử không cần viện tới khái niệm bản ngã hay bản chất để nói về sự liên tục trong kinh nghiệm chúng ta. Thực chất họ nhấn mạnh rằng khuynh hướng bám víu lấy sự vật như thể là chúng có bản chất bất biến, cùng khuynh hướng tự xem mình như thể là một thực thể có thật và trường tồn, là nguồn gốc gây phiền não (suffering).

Duyên khởi là quá trình phi cá nhân. Hiện tượng này tạo ra hiện tượng kia mà không cần người thực hiện hành động hay người tiếp nhận kết quả nào cả, dù theo thói quen khi nói về hiện tượng vật chất hay tinh thần ta hay nghĩ rằng chúng phải là của một ai đó. Giới Phật tử cho rằng hành động (karma nghĩa là “hành động”) sinh ra kết quả mà không cần có bất kì cái ngã trường tồn nào hết. Cái chúng ta gọi là bản ngã thực chất là một chuỗi các hiện tượng vô thường có tương quan nhân quả với nhau là, bất kì sự kiện vật chất hay tinh thần nào khởi sinh đều phụ thuộc vào những sự kiện khác.

(còn tiếp) 

Dịch: Kan 

Leave a Reply

Fill in your details below or click an icon to log in:

WordPress.com Logo

You are commenting using your WordPress.com account. Log Out / Change )

Twitter picture

You are commenting using your Twitter account. Log Out / Change )

Facebook photo

You are commenting using your Facebook account. Log Out / Change )

Google+ photo

You are commenting using your Google+ account. Log Out / Change )

Connecting to %s