Nhận thức và chuyển hóa tâm – Đức Đạt Lai Lạt Ma (Phần 2)

Bìa sách "Buddhism and Science"

CHUYỂN HÓA TÂM

Tôi xem tất cả các tôn giáo chủ chốt trên thế giới, nhất là đạo Phật, là phương tiện hay phương pháp tôi luyện tinh thần, để vượt qua khó khăn nhất là về mặt tinh thần, cụ thể là những tác động tiêu cực lên cảm xúc của chúng ta tạo ra bất ổn tinh thần, bất hạnh, sợ hãi, chán chường. Những trạng thái tinh thần như vậy sinh ra đủ loại hành động tiêu cực, rồi các hành động này lại tạo thêm nhiều vấn đề, nhiều phiền não khác. Pháp (Dharma) có nghĩa là phương cách vượt qua những vấn đề trường kỳ, nên nó còn mang nghĩa rộng là bảo vệ, hay giải cứu người nào đó khỏi chuyện không mong muốn. Vì thế mà Phật pháp là hệ thống của sự chuyển hóa hay tôi luyện tinh thần, để đạt được nội tâm tĩnh tại.

Sự chuyển hóa tinh thần chỉ đạt được bằng cách sử dụng chính tinh thần chứ không thể có được bằng cách nào khác. Hầu hết, trạng thái tinh thần nào làm ta không hạnh phúc đều không phù hợp với thực tại. Tất cả quan niệm sai lạc cùng cảm giác đau khổ đều có căn nguyên từ việc lĩnh hội không đúng thực tại, hay nói cách khác chúng đều xuất phát từ sự thiếu hiểu biết nền tảng, mà ta có thể đưa ra một ví dụ, chẳng hạn sự chấp ngã nghĩa là bám chặt vào quan niệm có bản ngã tồn tại. Phương thuốc chữa lành sự thiếu hiểu biết ấy là tạo dựng phương pháp nhìn vào thực tại như đúng bản chất của nó. Khi nhận ra trạng thái tinh thần gây khổ não là do không nắm bắt đúng thực tại, người ta phải dùng biện pháp nào đó sửa lại cái thiếu hiểu biết trên. Nói gọn là quan niệm sai sẽ bị quan niệm đúng đẩy lùi.

Để làm được như vậy, trước hết ta phải xem trạng thái tinh thần nào là sai lạc và cái nào lợi lạc, rồi ta phải giảm thiểu cái đầu và nuôi dưỡng cái sau. Bằng không thì ta sẽ chẳng mong muốn thay đổi những suy nghĩ hay cảm xúc gây hại, hoặc đối trị chúng bằng phương thuốc phù hợp. Điều cơ bản để tinh thần có thể chuyển hóa nhờ phương thuốc đó là chỉ khi nào chúng ta muốn làm; không ai ép ta được cả.

Học được cách phân biệt đâu là trạng thái tinh thần tích cực và đâu là tiêu cực cùng với nguồn gốc của chúng dựa trên kinh nghiệm của bản thân ta là rất quan trọng. Chỉ đọc hay hình thành những tri kiến học thuật về chủ đề này thì không đủ. Bởi như thế thì dễ dàng quá. Phương pháp suy luận này phải dựa trên trải nghiệm khi người ta quan sát cảm xúc của chính mình. Có khác biệt rất lớn giữa hai cách tiếp cận vừa nêu. Trừ vài ngoại lệ thì, chỉ hiểu biết trên phương diện tri thức đơn thuần thì không đến nỗi quá khó trong khi để hiểu được điều gì đó bằng trải nghiệm là khó. Tri thức dựa vào trải nghiệm chỉ có được nhờ nỗ lực liên tục, chuyên cần và là kết quả của một dạng kinh nghiệm “cảm giác”. Khi nó khởi lên, nó có thể sinh ra những cảm xúc mạnh mẽ có tính phá hủy hoặc tính xây dựng.

Nếu nhân loại không có chút cảm xúc nào thì sẽ chẳng có nền tảng nào cho việc sinh tồn, vì thế mà cảm xúc góp phần rất lớn trong việc hình thành nên con người. Hơn nữa, cảm xúc còn ảnh hưởng rất mạnh trong suốt cuộc đời con người. Có loại cảm xúc không chỉ gây đau khổ tinh thần mà còn gây hại cho thể chất người ta. Có loại cảm xúc khác tức thì sinh ra sức mạnh nội tâm mà nhờ đó thể chất của người ta cũng được tăng cường. Vì thế nên trong phạm vi cuộc sống, những cảm xúc lành mạnh có ích thật rõ ràng mà chẳng cần xét đến quan điểm của một tôn giáo cụ thể nào về nó cả. Cũng như vậy, nếu ai có thể làm giảm được cảm xúc không lành mạnh hay cảm xúc tiêu cực thì đó rõ ràng cũng là điều ích lợi trong cuộc sống.

Cho nên, thực hành chuyển hóa tâm đòi hỏi người ta phải giảm thiểu suy nghĩ hay cảm xúc gây phiền não đồng thời thích ứng với những suy nghĩ, cảm xúc ích lợi. Sự chuyển hóa, còn gọi là điều chỉnh, tâm như vậy là ý nghĩa của từ chö vốn có nghĩa là pháp (dharma – Kan) trong tiếng Tây Tạng. Thực hành pháp liên quan tới việc cải thiện tinh thần người ta, hiểu một cách giản dị là họ làm tăng trưởng những quá trình tinh thần ích lợi và giảm thiểu những gì gây hại cho tinh thần mình.

Dựa vào đâu mà ta khẳng định tính khả thi trong việc chuyển hóa tâm theo cách như thế đến tâm trí chúng ta? Có hai nguyên tắc cơ bản trong chuyện này. Thứ nhất, sự thay đổi vừa nêu là do nhân duyên (causes and contributing conditions). Bất cứ khi nào có thay đổi bao gồm cả sự chuyển hóa tích cực trong tâm, thì nó xảy ra được là nhờ nhân duyên. Nếu có ai đó khảo sát tỉ mỉ tiến trình chuyển hóa này, họ sẽ thấy nó thay đổi trong từng khoảnh khắc. Trong tâm không có bất cứ cái gì là tĩnh; tất cả đều trong tình trạng liên tục biến đổi một cách bất tận. Nếu có ai dùng kính hiển vi mạnh để quan sát nguyên tử, họ có thể thấy được những biến đổi trong tích tắc của loại hạt nhỏ bé này. Theo lẽ thường, ta có thể nói về một người nào đó hôm qua là giống hệt với người đó hôm nay, và cũng theo cách này với một sự kiện đã xảy ra suốt hàng ngàn năm nay, hay một địa điểm đã có từ hàng triệu năm nay. Tuy vậy, trên cấp độ kinh nghiệm chúng ta đều nhận thức được thực tại mang tính vô thường khi quan sát phương thức làm cho tính liên tục của sự vật trải qua thời gian tồn tại chung cuộc sẽ hoại diệt ra sao. Chẳng hạn như là chúng ta đều biết trái đất này cuối cùng phải đi tới hoại diệt. Nhưng mà nếu các sự vật, sự kiện không thay đổi trong từng khoảnh khắc thì ta không thể giải thích chúng chuyển hóa theo thời gian, không thể giải thích làm cách nào mà chúng hoại diệt. Khi ta khảo sát thời gian thật chính xác, ta thấy mọi vật thay đổi trong chớp mắt, đây gọi là nguyên lí vô thường, nó cho ta khả năng hiểu được sự biến đổi và tiến triển của vạn vật. Có nghĩa là bản chất của vạn vật là tính biến đổi, nhờ vào nhân duyên.

Trong những văn bản ghi lại lời dạy của Đức Phật, ngài nói rằng sự luân chuyển của một hiện tượng trong từng khoảnh khắc không phải là kết quả xuất phát từ một mối nhân duyên nguyên thủy nào bên ngoài, mà đúng hơn là hiện tượng luân chuyển là do bản chất thực thụ của vạn vật thì sinh khởi và biến đổi trong từng khoảnh khắc liên tiếp. Khi giải thích tính vô thường vi tế này, không nên nghĩ một cách đơn giản là một vật ở khoảnh khắc đầu thì chẳng liên hệ gì với vật thể ở khoảnh khắc kế tiếp, mà cần thấy là vật thể trong khoảnh khắc đầu cũng không hề bất biến nội trong khoảng thời gian ngắn ngủi này. Do đó, nếu có nguyên nhân căn bản làm cho vật nào đó xuất hiện thì, nó đã tạo ra vật này dựa trên bản chất vô thường của vạn vật. Và cũng tương tự vậy, tính vô thường có mặt ngay khi một ảnh hưởng nào đó lên tiến trình hoại diệt của vật thể bắt đầu hiện diện. Nghĩa là, bất kì hiện tượng nào cũng đang ở trong tiến trình hoại diệt cho dù nó vẫn đang có mặt do bản chất vạn vật là vô thường, chứ không phải một nguyên nhân bên ngoài nào khác làm nó hoại diệt.

Khi người ta đề cập tới tính liên tục của một vật hay một sự kiện bất kì, nếu xét đến tính vô thường trên bình diện tổng thể, ta sẽ thấy tồn tại những chuỗi sự kiện nối tiếp nhau. Khi hội đủ nhân duyên thì một hiện tượng sẽ sinh khởi và hiện diện; rồi sau đó tính liên tục của nó sẽ được duy trì mãi do sự tồn tại lâu dài của nhân duyên tương hỗ đồng thời với việc thiếu vắng những yếu tố phi tương hỗ; rồi sau cùng nó hoại diệt bởi nhân duyên tương hỗ đã hết trong khi nhân duyên gây hoại diệt bắt đầu xuất hiện. Nhưng mà, xét theo quan điểm về tính vô thường vi tế trong từng khoảnh khắc thì, bản chất của sáng tạo chính là bản chất của sự hoại diệt, trái với cái nghĩa ta hay hình dung về từ “sáng tạo” này. Điều này tương thích với khẳng định rằng mọi vật đầu tiên được sinh ra, rồi hiện diện, rồi phân rã, và cuối cùng là không còn hiện diện (chu trình “thành – trụ – hoại – không” nói về sự tồn tại của mọi vật theo quan niệm đạo Phật – Kan). Ở cấp độ vi tế thì các quá trình này xảy ra cùng lúc. Đây là một nguyên lí cho phép quá trình chuyển hóa và phát triển tâm thức xảy ra.

Nguyên lí thứ hai nói rằng giữa các hiện tượng bên trong và bên ngoài, sẽ có một số không tương thích với nhau. Kh có hai hiện tượng tương không thích nhau, khi đó tùy thuộc vào cái nào vượt trội hơn mà sự thay đổi sẽ diễn ra theo chiều hướng khác nhau. Hãy lấy ví dụ về những hiện tượng bên ngoài như là nóng – lạnh hay sáng – tối. Khi hai lực đối nghịch gặp nhau thì hoặc cái này hay cái kia sẽ thay đổi, theo chiều hướng suy giảm dần hoặc lập tức biến mất. Cũng vậy, trong số hiện tượng nội tâm, bao gồm cả cảm xúc, có rất nhiều sự kiện không tương thích nhau. Vì thế mà khi có một dạng suy nghĩ hay cảm xúc nào sinh ra thì nó sẽ tương tác với hiện tượng nào không tương thích với nó. Như vậy, nguyên lí thứ hai thúc đẩy quá trình chuyển hóa tâm là, sự thay đổi sẽ xuất hiện khi một hiện tượng tiếp xúc với hiện tượng khác không tương thích với nó.

Và như thế, nhờ hai nền tảng đối nhau như vừa nêu mà tinh thần có thể được chuyển hóa. Một vấn đề khác đi liền với việc chuyển hóa tâm là, liệu chuyển hóa nào đúng đắn còn cái nào thì sai lạc. Trong mỗi trạng thái tinh thần, nếu có một sự vật nào đó tồn tại tương ứng với những gì được mức độ tinh thần đó lĩnh hội, thì có nghĩa nó được hậu thuẫn bởi nhận thức đúng đắn. Nếu sự vật đó không tồn tại trong tương quan với những gì được lĩnh hội ở cấp độ nhận thức này, thì tri kiến này có thể sai lạc. Cho nên hai cấp độ nhận thức vừa nêu không tương thích lẫn nhau, hay nói khái quát, giữa hai dạng nhận thức này cái nào dựa trên thực tại thì mạnh hơn cái không dựa vào thực tại. Dù rằng trong ngắn hạn một nhận thức sai lạc có thể vượt trội hơn, nhưng vì không có nhận thức đúng đắn hỗ trợ nên về lâu dài nó sẽ trở nên yếu hơn so với phương pháp lĩnh hội thực tại bằng thực tiễn. Đây là điểm cực kì quan trọng.

Khi xét đến hai cảm xúc không tương thích nhau, thì có vẻ một trong hai sẽ mang lại cảm giác lợi lạc và thỏa mãn tạm thời, nhưng về cơ bản theo thời gian chúng sẽ cho thấy tính nguy hại. Cảm xúc này không thể được nâng đỡ bằng trí thông minh có tính phân biệt, là loại trí thông minh người ta dùng để phân định cái nào có lợi còn cái nào có hại trong ngắn hạn cũng như lâu dài. Một cảm xúc đối nghịch nhất thời có thể gây phiền não, nhưng nếu về lâu dài nó cơ bản là hữu ích thì khi đó, người nào càng phát triển sức mạnh trí khôn thì sức mạnh này càng hỗ trợ đắc lực cho cảm xúc kia. Như thế là, giữa hai loại cảm xúc có vẻ giống nhau thì, một cái có thể được trí tuệ hỗ trợ còn cái kia thì không thể. Vậy ta có thể làm tăng trưởng những cảm xúc được tiếp sức bởi trí khôn và tuệ giác và do đó, ta có thể nói rằng cảm xúc này đã mạnh lên hơn nhiều.

Dựa vào hai nguyên lí vừa nêu, ta có thể hiểu được cảm xúc thay đổi theo cách nào. Nó gợi ra tầm quan trọng trong việc tập trung hiểu thấu bản chất của tinh thần. Nói cụ thể, điều quan trọng cần nhận ra là những quá trình tinh thần nào, tính cả cảm xúc, thì không tương thích lẫn nhau. Quan trọng hơn nữa là cần dùng trí phân biệt để khảo sát xem về lâu dài cảm xúc nào đem lại lợi lạc còn cảm xúc nào gây hại. Kết hợp với điều vừa nói, người ta cần nghiên cứu xem cảm xúc nào phù hợp với thực tại và cảm xúc nào không. Khi đã biết được tầm quan trọng của việc hiểu được cảm xúc trong tương quan với thực tại, hiển nhiên là người ta cũng cần thu thập hiểu biết chân xác về đối tượng do trí óc tiếp nhận. Hiểu biết này sẽ dẫn họ tới chỗ tìm cách khảo cứu xem một đối tượng xuất hiện trong trí óc có thực sự tồn tại trong tương quan với cách thức mà nó xuất hiện hay không.

Sự vật nào gây ảnh hưởng đến ta, kể cả theo cách tốt hơn hay xấu hơn, không chỉ gồm những hiện tượng sinh ra từ trải nghiệm tức thì của ta. Mà còn có những hiện tượng không thay đổi và trừu tượng hơn, chúng xuất hiện trong trí óc mà không phải do nhân duyên sinh ra. Vì thế ta cần khám phá và hiểu được bất kì loại hiện tượng khả dĩ nào xuất hiện trong trí óc ta, dù chúng là giả hợp (composite phenomena) hay không giả hợp (uncomposite phenomena). Điều này cho biết lí do vì sao các luận thuyết trong nhà Phật đều diễn giải chi tiết về hai loại hiện tượng vừa nêu, bao gồm cả mười hai xứ lẫn mười tám yếu tố của thực tại. Trong hai loại hiện tượng đó, loại có ích hoặc gây hại cho ta hiểu theo nghĩa nó mang lại hạnh phúc hoặc gây ra đau khổ, phần nhiều là thuộc về hiện tượng giả hợp. Nó cũng cho biết lí do tại sao năm uẩn được đề cập trong đạo Phật. Nếu mục đích của thiền định chỉ đơn thuần là để làm đức tin thêm sâu thì việc luận bàn về các yếu tố thực tại, các xứ, hay các uẩn là không cần thiết. Khi ta kết hợp việc truy tầm tri thức với việc cố gắng chuyển hóa tâm lại với nhau, ta phải khám phá và phân tích được bản chất của thực tại khách quan. Nó giải thích lí do vì sao các luận thuyết đạo Phật trình bày những phân loại chi tiết về mọi loại hiện tượng cả vô thường lẫn thường hằng.

Theo góc nhìn này thì đạo Phật tự coi mình như là phương pháp khám phá và diễn giải tổng quát về bản chất của thực tại khách quan. Trong quá trình khám phá như vậy, cần nhấn mạnh rằng ta phải có thái độ khách quan, không thiên vị. Cũng như trong quá trình khám phá và nghiên cứu khoa học ta phải khách quan, không cho phép mình đánh giá thiên lệch công trình của người khác theo niềm tin và sở thích của mình. Nghiên cứu của ta cần được xác định bằng những tìm tòi thực nghiệm. Trong đạo Phật cũng tương tự vậy: ta phải khách quan, cần xác định được mức độ định kiến của bản thân và nhận diện được chúng gây cản trở ra sao. Tìm ra được chân tính của thực tại bằng cách vượt ra khỏi định kiến, tiến hành nghiên cứu với mục tiêu về thực tại như thế, cả hai đều quan trọng. Vậy từ góc độ này thì khoa học và đạo Phật khá giống nhau.

Mặt khác, nếu ta xét tới một giả thuyết chỉ đơn thuần là một phỏng đoán hoặc là một sự bịa đặt từ trí tưởng tượng của ta mà không có cơ sở thực tế, nếu ta còn quen thuộc với chúng nhiều chừng nào thì ta càng không thể giữ lấy chúng mãi được. Đây cũng là cách thức ta tham gia vào việc chuyển hóa tâm.

Sau khi ta tham gia nghiên cứu một cách liên tục và cẩn trọng một mặt nào đấy của thực tại theo phương pháp của đạo Phật, sau cùng ta sẽ đạt đến một tri thức cụ thể nào đó. Một phát kiến cụ thể đã được thực hiện. Trong truyền thống đạo Phật, người ta hay nói về tuệ giác (wisdom) và phương tiện thiện xảo (skillful means), trong đó tính năng của tinh thần liên quan trực tiếp tới việc truy tầm tri thức được gọi là “tuệ giác”. Những tính năng khác của tinh thần, chẳng hạn như sức mạnh tinh thần và các quá trình tinh thần đa dạng khác, vốn hỗ trợ cho việc truy tầm tuệ giác được gọi là “phương tiện thiện xảo”.

Ghi chú

Phần đầu của tham luận này nói tới nhận thức về tâm, là diễn văn khai trương Quỹ Đức Đạt Lai Lạt Ma thứ 14 chuyên về văn hóa và đạo Phật Tây Tạng thuộc Đại học California Santa Barbara, được trình bày ngày 02/06/1997. Bài này được ấn hành dưới sự chấp thuận của ông Tenzin Geyche đại diện cho Văn phòng tư của Đức Đạt Lai Lạt Ma cũng như giáo sư Richard Hecht đại diện cho Khoa nghiên cứu tôn giáo thuộc Đại học California Santa Barbara. Phần hai của tham luận nói tới chuyển hóa tâm, là một bài nói của Đức Đạt Lai Lạt Ma trong chương trình Lamp for the Path và Lines of Experience vào ngày 25/06/2000 tại Los Angeles, California. Bài này được ấn hành dưới sự chấp thuận của Geshe Tsultim Gyeltsen đại diện cho trung tâm Thubten Dhargye Ling cùng với đại đức Lhakdor đại diện cho Văn phòng tư của Đức Đạt Lai Lạt Ma. Cả hai bài này đã từng được Geshe Thupten Jinpa phiên dịch, nhưng lần này đã được B. Alan Wallace dịch lại từ tiếng Tây Tạng để xuất bản theo sách này.

Dịch: Kan

Leave a Reply

Fill in your details below or click an icon to log in:

WordPress.com Logo

You are commenting using your WordPress.com account. Log Out / Change )

Twitter picture

You are commenting using your Twitter account. Log Out / Change )

Facebook photo

You are commenting using your Facebook account. Log Out / Change )

Google+ photo

You are commenting using your Google+ account. Log Out / Change )

Connecting to %s