Đạo Phật và Khoa học – Nhận thức và chuyển hóa tâm – Đức Đạt Lai Lạt Ma (Phần 1)

Bìa sách "Buddhism and Science"

Trong số nhiều lĩnh vực có tương giao thi vị giữa đạo Phật và khoa học, hiển nhiên không có điều gì cốt lõi hơn vấn đề bản chất của tâm và khả năng chuyển hóa tâm theo hướng tích cực. Đây cũng là chủ đề mà Đức Đạt Lai Lạt Ma qua tham luận này sẽ đề cập. Ngài là người đã nhấn mạnh lợi ích tương hỗ tiềm năng trong việc đối thoại và cộng tác giữa giới Phật tử và giới khoa học nhận thức. Đức Đạt Lai Lạt Ma khởi đầu đề tài bằng thảo luận về tương quan giữa tâm với từng yếu tố trong Bốn Chân Lí Màu Nhiệm (Tứ Diệu Đế – Kan) vốn là nền tảng tổng thể của đạo Phật. Dù tâm hiển nhiên là đối tượng quan trọng bậc nhất của người Phật tử khi suy nghiệm về bản chất thực tại, nhưng truyền thống đạo Phật không bó hẹp chỉ trong phạm vi về trạng thái chủ thể của tâm thức mà còn rất quan tâm đến bản chất của hiện tượng khách thể cùng tương quan của chúng với tâm thức. Ngài đã chỉ ra rằng nhận thức đúng đắn (valid cognition) là tiêu chí tiên quyết để xác định cái gì tồn tại và cái gì không, đồng thời việc lĩnh hội bản chất sự vật một cách đúng đắn là thiết yếu để trau dồi trạng thái lành mạnh cho tinh thần.

Trong khi ở phương Tây đạo Phật thường được coi là tôn giáo thì ở bài này, Đức Đạt Lai Lạt Ma đã nhấn mạnh đến mối liên quan của đạo Phật với việc quan sát cẩn trọng và phân tích lí tính, ngược với chuyện chỉ dựa vào mỗi lòng tin. Hơn thế, cả đạo Phật và khoa học đều đặt yêu cầu về tính khách quan, hiểu theo nghĩa không có chuyện thiếu nhất quán một cách chủ quan, lên hàng đầu trong quá trình khám phá của bất kì ai về thế giới tự nhiên. Trong đạo Phật, sự đeo đuổi những tri kiến về cơ bản là thực tiễn: một cá nhân tìm kiếm tri kiến để chuyển hóa tâm nhằm thoát khỏi đau khổ và nguồn gốc gây đau khổ cho bản thân và cho những người khác. Theo Đức Đạt Lai Lạt Ma thì sự chuyển hóa đó chỉ do tâm mang lại chứ không thể mang lại bằng công nghệ hay bất cứ biện pháp can thiệp nào bên ngoài tinh thần. Thêm nữa, Ngài cho rằng khả năng thực thụ của việc chuyển hóa tâm theo hướng tích cực là do bản chất bất định của tâm cùng với thực tế là mọi trạng thái tinh thần dù lành mạnh hay không đều khởi sinh từ nguyên nhân và điều kiện trước đó. Vì vậy mà quan niệm của đạo Phật về tâm và khả năng chuyển hóa tâm không có nguồn gốc từ tự nhiên luận (naturalistic): chính tinh thần là một phần của sự kết hợp các yếu tố tự nhiên, và sự thay đổi trong tâm xảy ra bởi những tiền nguyên nhân có thể xác định được.

B. Alan Wallace

NHẬN THỨC VÀ CHUYỂN HÓA TÂM – UNDERSTANDING AND TRANSFORMING THE MIND.

Đức Đạt Lai Lạt Ma

NHẬN THỨC VỀ TÂM

Chủ đề của tham luận này là về tâm (hay tinh thần – Kan) vốn có bản chất cốt yếu là minh mẫn (1). Thực ra tôi cảm nhận được giá trị to lớn từ những đối thoại và cộng tác lâu dài của giới Phật tử và giới sinh học thần kinh (neurobiologist) do cùng nghiên cứu về bản chất cũng như chức năng của bộ não. Theo hướng này, chủ đề cộng tác trong thảo luận hay nghiên cứu có thể bao gồm quan hệ giữa thể chất và tinh thần, hay phương thức trí nhớ vận hành. Một chủ đề khác nữa là cách thức biểu lộ từ khuynh hướng quen thuộc của tinh thần thành trải nghiệm thực tế. Cho đến giờ tôi đã có cơ hội tham dự nhiều đối thoại với giới khoa học gia ngành nhận thức, và tôi nhận ra hiểu biết của mình tăng lên sau mỗi lần như thế. Cả giới khoa học thần kinh và giới Phật tử đều được lợi ích từ việc cộng tác như vậy. Tôi đã được lợi từ những trao đổi như thế, và dường như giới khoa học thần kinh cũng thu được những ý niệm hay phương thức mới mẻ từ đó.

Bây giờ tôi muốn đề cập tới bản chất của tâm thức cùng các vấn đề liên quan theo quan niệm của đạo Phật truyền thống Tây Tạng. Bốn Chân Lí Màu Nhiệm đã được biết đến rộng rãi như là gốc rễ hay nền tảng của tất cả giáo lí đạo Phật. Trong đó đầu tiên là Sự Thật Về Khổ, nói về bản chất của khổ đau. Lí do vì chúng ta sợ khổ đau, và chủ đề này được giảng theo nghĩa về mặt cảm giác. Trong số ba loại đau khổ, loại thứ nhất gọi là khổ khổ, do chính cảm giác chúng mang lại. Loại thứ hai là hoại khổ, là khi cảm giác an lạc bị mất đi. Loại thứ ba là hành khổ nói về cảm giác trung tính, nghĩa là không an lạc cũng không phiền não. Và giờ thì ba loại khổ nói trên gắn liền với cảm giác bởi chúng liên quan trực tiếp tới tâm thức. Vậy Chân Lí Màu Nhiệm Thứ Nhất về đau khổ có tương quan sâu sắc tới bản chất tâm thức.

Chân Lí Màu Nhiệm Thứ Hai nói về nguồn gốc đau khổ, đề cập tới sự phiền não, tới nghiệp hay còn gọi là hành động sinh ra do phiền não. Một vài trường phái đạo Phật quả quyết rằng nghiệp có chủ ý (voluntary karma) trên thực tế có bản chất vật chất. Nhưng nhìn chung giáo lí nhà Phật xem nghiệp là yếu tố tinh thần liên quan tới sự mong cầu. Do vậy, nghiệp thuộc bản chất của sự mong cầu, cũng thuộc bản chất của tâm thức. Và phiền não tất nhiên cũng là một biểu hiện của tâm thức.

Bàn về Chân Lí Màu Nhiệm Thứ Ba về chấm dứt đau khổ (diệt khổ – Kan), dẫu diệt khổ tự nó không phải là tâm thức nhưng vẫn là một thuộc tính của tâm thức. Chân Lí Màu Nhiệm Thứ Tư về con đường diệt khổ, nói tới những đặc tính tốt đẹp của tâm hay còn gọi là tâm thức, nhất là đặc tính nào dẫn đến giải thoát. Nói theo hai thuật ngữ luân hồi nghĩa là vòng đời, và niết bàn nghĩa là sự giải thoát thì, nếu tâm không được điều phục thì đó là luân hồi, nếu tâm được điều phục thì đó là niết bàn.

Do biết được tầm quan trọng to lớn của tâm nên vài trường phái triết lí trong nhà Phật quan niệm rằng mọi hiện tượng đều có bản chất do tâm thức. Họ cho là đối tượng ngoại cảnh – hiểu theo nghĩa một hiện tượng hoàn toàn độc lập với tâm thức – không hề tồn tại. Nhưng trường phái triết lí chiếm ưu thế nhất trong đạo Phật truyền thống Tây Tạng không quan niệm như vậy mà cho rằng thực thể vật chất ngoại cảnh vốn có bản chất khác với tâm, cũng tồn tại. Nói ngắn gọn là, trong giới Phật tử Tây Tạng có một số chối bỏ sự tồn tại của thực thể ngoại cảnh có bản chất không thuộc tâm thức, nhưng phần đông các luận sư đạo Phật Tây Tạng công nhận sự tồn tại của thực thể ngoại cảnh. Điểm này đã làm nảy sinh nhiều tranh luận lớn.

Xét theo phân loại của đạo Phật về năm uẩn, mười hai xứ, mười tám yếu tố của thực tại, thì tâm thức nằm trong hai nhóm xếp sau. Trong số năm uẩn (sắc/ thọ/ tưởng/ hành/ thức – Kan) thì thọ, tưởng và thức chính là những khía cạnh của tâm. Còn với uẩn hành thì có cả hiện tượng tinh thần lẫn phi tinh thần. Cho nên hầu hết các uẩn đều có bản chất do tâm. Nếu các uẩn này có khả năng bầu cử thì nhóm uẩn có bản chất do tâm sẽ thắng lớn! Tôi cần nói thêm rằng uẩn thứ năm gọi là sắc. Vậy năm uẩn gồm sắc, thọ, tưởng, hành, thức. Trong số này chỉ có sắc là phi tinh thần, ba uẩn thọ, tưởng và thức có bản chất do tâm, còn uẩn hành thì vừa có bản chất do tâm lẫn phi tâm.

Đức Phật nói rằng người nào điều phục được tâm sẽ có an vui, nếu tâm không được rèn luyện sẽ sinh ra đau khổ. Do vậy đạo Phật cực kì chú trọng đến tinh thần. Theo đó cái căn bản cần làm trong sạch chính là tâm. Khi tâm được điều phục thì đó là niết bàn hay giải thoát, người không điều phục được tâm sẽ trôi mãi trong vòng đời vốn còn gọi là luân hồi. Những đặc tính và trạng thái tinh thần tốt đẹp sẽ làm trong sạch tâm thức.

Tiêu chí cơ bản để xác định cái gì tồn tại và cái gì không quay quanh chuyện có hay không một thứ gì đó được tiếp nhận bởi nhận thức đúng đắn. Một cái gì đó đơn thuần chỉ được nhận thức hay đơn thuần xuất hiện trong trí óc là chưa đủ, mà là, khi trí óc hấp thụ cái gì thì nhận thức này không thể bị bác bỏ. Nghĩa là, khi một thực thể được trí óc tiếp nhận thì nó không thể bị tri kiến hợp lí nào khác phủ nhận tính đúng đắn. Do đó tiêu chí cho bản thân vấn đề hiện hữu gắn liền với tâm trí, nhất là với nhận thức đúng đắn. Vì thế mà một số người phương Tây quan tâm tới đạo Phật đã quan niệm rằng đây không phải tôn giáo mà là một khoa học về tinh thần. Tôi nghĩ rằng có cơ sở cho những phát biểu như vậy.

Tiếp đến thì đâu là bản chất của tâm hay còn gọi là thức? Chữ thức trong tiếng Tây Tạng là shepa (shes pa), vốn là động từ diễn đạt nghĩa “Người ta biết” hay “Tôi biết”, nó ám chỉ một hoạt động. Vậy người ta nói về thức theo nghĩa có khả năng biết. Nói theo cách phân loại bên trong thức thì chúng tôi đặt ra hai dạng. Thứ nhất là cảm thức do đóng góp nổi trội của nó vốn cần thiết cho thực thể vật chất. Thứ hai là tâm thức góp phần nổi trội cần thiết cho những gì phi vật chất. Một kiểu xếp loại khác là phân biệt giữa tinh thần và những yếu tố của tinh thần. Tinh thần tiếp nhận hình ảnh nguyên sơ, hay bản chất của đối tượng, trong khi yếu tố tinh thần lĩnh hội các thuộc tính cụ thể của đối tượng được nhận thức.

Học phái Phật giáo Vaibhasika quan niệm rằng tâm thức tiếp nhận đối tượng một cách trần trụi, không qua thiền định, ngụ ý rằng có một dạng tâm thức “phi hình ảnh” tồn tại. Ngược lại, học phái Kinh Lượng bộ (Sautrantika) và tất cả những hệ phái triết lí cao hơn (chẳng hạn, Trung Quán tông hoặc Duy Thức tông) quan niệm rằng tâm thức tiếp nhận đối tượng thông qua các dạng hình ảnh khác nhau. Vì thế mà họ xác định là tâm thức khởi sinh bằng hình ảnh.

Một kiểu phân loại khác nữa gồm, nhận thức dựa trên khái niệm (conceptual cognition) và nhận thức phi khái niệm (nonconceptual cognition). Nhận thức dựa trên khái niệm lĩnh hội các đối tượng bằng các ý niệm chung, trong khi nhận thức phi khái niệm như sự cảm nhận chẳng hạn, lĩnh hội đối tượng một cách trực tiếp hơn hay có thể nói là không theo ý niệm chung.

Nói về phương cách tâm thức tiếp nhận đối tượng thì trước hết là có một nhận thức sai lầm làm sự lĩnh hội đối tượng lệch lạc đi. Điều này hoàn toàn sai lạc. Thứ hai, khi xuất hiện nghi ngờ hay điều không chắc chắn, nghĩa là nhận thức có xu hướng từ chối lấy một trong hai lựa chọn. Từ đó xuất hiện niềm tin hay theo cách hiểu đơn giản là ý kiến, vốn không dựa trên bất kì nền tảng lí luận hay thực nghiệm nào thuyết phục. Kế đến, tồn tại những kết luận dựa trên lí do hay dẫn chứng xác đáng. Và cuối cùng, tồn tại những cảm nhận theo đó đối tượng được lĩnh hội dựa theo kinh nghiệm. Vì thế mà chúng ta có rất nhiều loại nhận thức. Điều cực kì quan trọng là phải phân biệt được nhận thức là đúng đắn hay sai lạc.

Trong số các loại nhận thức trên, cái nào gây ra đau khổ đều sai lạc do không nắm bắt đúng thực tại. Rất nhiều trạng thái tâm thức dẫn tới khổ đau là do sai lầm, do không hiểu biết thực tại. Cho nên điều cực kì quan trọng là phải khảo cứu xem đâu là khoảng cách giữa nhận thức đúng đắn và nhận thức lầm lạc. Ta làm điều đó như thế nào đây? Cả hai loại nhận thức đúng đắn lẫn sai lạc trong chừng mực nào đó khá giống nhau, bởi chúng đều hiện hữu, khởi sinh, và đều cảm nhận được. Vậy giờ nhiệm vụ của chúng ta là khảo cứu xem cái nào đúng đắn, cái nào sai lầm. Để hoàn thành nhiệm vụ này cần xét tới thực tại, tới hiện tượng được lĩnh hội bởi trí óc.

Vấn đề quan hệ giữa thực tại với yếu tố bên ngoài có ở khắp nơi, vì vậy mà có thể tồn tại sự bất cân xứng giữa chuyện mọi vật xuất hiện thế nào với chuyện chúng tồn tại ra sao. Vấn đề trên cần được khảo cứu kĩ lưỡng. Do tầm quan trọng của việc khảo cứu bản chất thực tại mà không đơn thuần dựa vào hiện tượng bề ngoài, điều cốt yếu là phải khảo cứu ngữ cảnh trong lời dạy của Đức Phật sao cho hợp lí, rằng khi nào thì một lời dạy cụ thể nào đó nên được hiểu theo nghĩa đen và khi nào không nên.

Những khảo cứu như thế cần do trí óc thực hiện, và tất nhiên là không đơn thuần chỉ dùng thiết bị công nghệ. Để đương đầu với một nhận thức hoàn toàn sai lạc, người ta có thể tuân theo một chuỗi lí luận để tìm ra kết luận đúng đắn, hay người ta có thể dùng tam đoạn luận. Tam đoạn luận kéo theo những lập luận lúc thì được dùng để xác nhận một thực thể cho trước nào đó là hiện hữu hoặc xác nhận tính đúng đắn của một mệnh đề cho trước, lúc thì dùng để bác bỏ tính hiện hữu của sự vật hay chỉ ra mệnh đề có tính ngụy biện.

Nghĩa là, có lúc người ta phỏng đoán rằng cái này tồn tại, lúc lại phỏng đoán là cái kia không tồn tại. Dựa trên sự phân cực này, tam đoạn luận đôi khi có tính phủ định, hiểu theo nghĩa chúng dùng để diễn tả sự vắng mặt một thực thể nào đó, và đôi khi tam đoạn luận có tỉnh khẳng định khi chúng xác nhận sự hiện hữu của thực thể cho trước. Bởi thế, quá trình phân tích tập trung vào suy luận lí tính. Cũng bởi tính tập trung vào phân tích và khảo cứu lí tính trong triết lí đạo Phật, tôi nghĩ là sự đối thoại và cộng tác giữa triết lí đạo Phật và triết lí Tây phương có tiềm năng rất lớn.

Tôi đã đàm thoại với một số triết gia, họ bảo tôi rằng vài trường phái tư tưởng phủ nhận sự hiện hữu tối hậu của vũ trụ đồng thời phản bác việc phân biệt giữa vũ trụ với các thuộc tính của nó thành hai cấp độ. Tôi cũng đã nghe rằng có một số vị bác bỏ luật bài trung (Law of the Excluded Middle). Trong đạo Phật chúng tôi quan niệm rằng khi ai đó có ý kiến ngược với việc khẳng định tính hiện hữu của thực thể, thì có nghĩa là nó bác bỏ sự tồn tại của thực thể đó. Ngược lại, dường như với một số hệ thống triết lí thì luật bài trung không được chấp nhận. Đây hiển nhiên là một chủ đề để ta thảo luận sâu hơn và cùng khảo cứu. Nếu từ những khảo cứu cẩn trọng cho ra luận cứ thuyết phục chứng minh luật bài trung tồn tại phổ biến, thì điều này sẽ đặt ra nhiều nghi vấn cho những luận cứ cốt lõi trong lòng triết lí đạo Phật. Khi đó, ta sẽ phải xét lại nhiều quan niệm của đạo Phật.

Theo cách nhìn của đạo Phật, lí do dự phần vào những khảo cứu như trên không đơn thuần để thu được nhiều kiến thức hơn về thế giới mà hơn thế, mục đích của chúng tôi là đem đến sự chuyển hóa trong tinh thần. Sự chuyển hóa này không đơn giản có được bằng cầu nguyện hay ước ao sao cho tinh thần sẽ chuyển đổi. Tinh thần không thể được chuyển hóa chỉ bằng mỗi chuyện cầu nguyện hay ước ao, mà hơn thế, để làm được cần xác định rõ nhiều mặt của thực tại. Lấy ví dụ, nếu bạn có một giả định cụ thể nào đó về thực tại, bạn nhắm vào nó để khảo cứu và sau đó bạn tìm ra chứng cứ phủ nhận tiền giả định của bạn, thì khi bạn càng tập trung vào chứng cứ này thì sức thuyết phục của tiền giả định kia càng giảm và nhận thức của bạn sẽ minh mẫn hơn. Vì thế mà hầu hết các đặc tính tốt của tinh thần đều gắn kết hài hòa với thực tại, hay có thể nói là chúng có lí. Chúng được bổ trợ bởi chứng cứ thuyết phục. Tinh thần của một người được chuyển hóa khi họ minh định và triệt để hướng bản thân mình cùng nội tâm thuần khiết vào bản chất của thực tại, cái bản chất đã phủ nhận tính đúng đắn của những cái trước đó họ đã ngộ nhận hay giả định sai lạc.

Chẳng hạn trong nhà Phật, chúng tôi nói về niềm tin, hay tự tin. Nếu niềm tin của ai đó chỉ dựa trên mỗi tính thẩm quyền – do niềm tin trong họ được xác lập dựa theo kết luận của một người hay một kinh điển nào đó có thẩm quyền – thì chúng không vững chắc, không đủ tin cậy. Đối lại có dạng niềm tin khác sinh ra dựa trên khảo cứu cẩn trọng và liên tục. Niềm tin như thế là dựa trên tri thức. Các đặc tính như niềm tin hay tâm từ của một người được nuôi dưỡng khi họ đi theo con đường tâm linh được vun xới bởi lí luận và tri thức. Những đặc tính ấy được tuệ giác hỗ trợ, cho dù bản thân chúng không phải là tuệ giác. Bằng những phương cách khảo cứu như trên, nhận thức sai lạc của người ta sẽ giảm đi và nhận thức đúng đắn tăng lên. Mặt khác, cũng là chính đáng nếu ai đó tiếp cận các nghiên cứu về đạo Phật theo hướng thuần túy học thuật để làm mình thêm uyên bác.

Trong truyền thống Phật giáo Mật tông, còn gọi là Kim Cương Thừa, có phân loại tính vi tế của tâm thức thành các cấp độ khác nhau. Chẳng hạn có ba cấp độ tâm thức gồm tỉnh thức (waking consciousness), mộng thức (dreaming consciousness), và bất mộng thức nghĩa là trạng thái sáng suốt khi ngủ mà không mơ mộng. Tất cả ba thức này đều được khảo cứu. Trạng thái tâm thức của một người bị ngất xỉu thì khó thấy hơn ba dạng vừa kể. Sau hết, trạng thái tâm thức khó thấy nhất diễn ra trong tiến trình của cái chết. Tôi tin rằng sẽ thật hữu ích nếu ta khảo cứu sự liên hệ giữa tinh thần và bộ não trong mối tương quan với đa dạng cấp độ vi tế của tâm thức như vừa nêu.

Có vẻ phù hợp hơn nếu ta xem những trạng thái tinh thần vi tế trên như là các dạng tiềm thức. Dường như nguyên nhân của những trạng thái tinh thần vi tế hơn thì không liên quan gì đến loại thức có đối tượng cụ thể để tiếp nhận, cũng không liên quan đến loại thức làm đối tượng nảy sinh và phân biệt chúng. Khi các loại thức thô sơ hơn – gồm thức gắn với năm giác quan, và ý thức – biểu lộ ra, thì các trạng thái tinh thần vi tế hơn vẫn ẩn tàng. Nhưng khi xuất hiện điều kiện hay tác nhân thích hợp, chúng có thể trở nên rõ ràng và được ý thức đầy đủ.

Trong đạo Phật truyền thống Kim Cương Thừa, trạng thái vi tế nhất của tinh thần được gọi là ánh sáng trong suốt. Theo cách phân loại các thức thì, có loại thức chứa một dòng chảy bất tận hay còn gọi là một chuỗi liên tục không bao giờ dứt, còn với các thức khác thì chuỗi liên tục của chúng có điểm kết. Cả hai cấp độ này của thức – một chứa chuỗi liên tục bất tận và một chứa chuỗi liên tục hữu hạn – đều có bản chất tạm thời. Có thể nói rằng chúng sinh ra trong từng khoảnh khắc, rằng chúng ở trong một dòng chảy không ngừng. Cho nên tính vĩnh cửu của loại thức đầu chỉ là dựa trên tính liên tục của chính nó. Loại thức vi tế nhất chứa một chuỗi liên tục bất tận như thế, còn dòng chảy của những trạng thức thô sơ hơn thì chắc chắn có điểm kết.

Bên trong triết lí đạo Phật còn một điểm khác gây ra tranh luận đáng kể. Một mặt, nếu ai đó nhìn vào dòng chảy của khoảnh khắc tâm thức (moment of consciousness: sát na tâm – Kan), họ sẽ thấy rằng một khoảnh khoắc tâm thức bất kì có thể tiếp nhận được một khoảnh khắc tâm thức khác có trước nó. Nhưng mặt khác triết lí đạo Phật còn đặt ra một vấn đề sâu hơn, đó là liệu có hay chăng một khoảnh khắc tâm thức tự nhận biết được chính nó. Còn nhiều điều cần thảo luận cũng như khảo cứu xoay quanh điểm này.

Vừa rồi là một khái quát chung của triết lí đạo Phật về bản chất của tinh thần. Sau hơn hai ngàn năm khảo cứu về bản chất tinh thần trong nhà Phật, vẫn tồn tại những chủ điểm chưa được giải quyết. Tôi ngờ là trong số đó vẫn còn những chủ điểm chưa giải quyết được ngay cả khi chúng đã trở thành đối tượng của các nghiên cứu hiện đại. Nhưng mà suy cho cùng, dù chúng ta có thực sự giải quyết được chúng hay không thì trong cuộc sống này chúng ta vẫn nên có một tinh thần cởi mở hơn, một trái tim nồng hậu hơn. Tôi nghĩ cái đó mới thiết thực và hữu ích hơn.

Dịch: Kan

Leave a Reply

Fill in your details below or click an icon to log in:

WordPress.com Logo

You are commenting using your WordPress.com account. Log Out / Change )

Twitter picture

You are commenting using your Twitter account. Log Out / Change )

Facebook photo

You are commenting using your Facebook account. Log Out / Change )

Google+ photo

You are commenting using your Google+ account. Log Out / Change )

Connecting to %s