Đạo Phật và Khoa học – Đối thoại giữa nhận thức luận trong đạo Phật và trong cơ học lượng tử (Phần 2)

Bìa sách “Buddhism and Science”


BÀN VỀ NGUYÊN TỬ, QUANG TỬ, LƯỢNG TỬ – ON ATOMS, PHOTONS, AND QUANTA

ĐĐLLM, AW và TJ [nói tiếng Tây Tạng]

TJ: Chúng ta có thể nói tới loại hạt vi tế nhất. Các luận sư Trung Quán tông đã bác bỏ khái niệm về những thành tố bất kì được xem là nền tảng, nguyên sơ và tối hậu, kiểu như nguyên tử hay các hạt không thể phân nhỏ. Những luận sư ấy cho rằng quan niệm như thế là không hợp lí.

Zeilinger: Cái này thuộc vấn đề bản thể. Chí ít là trong ngành vật lí đã có mối bất hòa với một truyền thống lâu đời khác. Tư tưởng vật lí cho đến đầu thế kỉ thứ hai mươi là căn bản ta có thể giải thích – ít nhất là trên nguyên tắc – ta có thể giải thích vì sao một điều cụ thể nào đó xảy ra. Bức tranh cũ về vũ trụ ngày xưa giống như một cái đồng hồ được lên giây bởi đấng sáng thế trong Cơ Đốc Giáo – người thợ làm đồng hồ tối thượng ở đây là Thượng Đế, đã chế tạo và khởi động nó – và giờ thì vũ trụ đang vận hành chính xác như một cái đồng hồ. Tình huống đơn giản chỉ là giải thích đồng hồ hoạt động theo quy luật nào, đồng thời ta phải bắt đầu từ cái trong vật lí gọi là điều kiện tiên quyết (initial condition). Ta phải biết khởi thủy của vũ trụ trông ra sao thì những điều còn lại sẽ trở nên rõ ràng.

Giờ đây theo quan niệm hiện đại thì bức tranh kiểu như vậy không còn phù hợp nữa. Nói cách khác, khối sự kiện trong vũ trụ năm giây sắp tới không do khối sự kiện hiện thời quyết định, chí ít là không thể quyết định trọn vẹn. Tôi nghĩ điều đó dẫn đến hệ quả là thế giới quan của chúng ta. Với tôi thì một quan niệm cởi mở như thế về vũ trụ đẹp hơn nhiều quan niệm cũ về vũ trụ khép kín trong đó mọi thứ chỉ tuân theo chương trình định sẵn – nó thoáng hơn nhiều. Theo một nghĩa nhất định thì nó cũng lãng mạn hơn nhiều. Và không quá nhàm chán…

Zeilinger: Ông bạn Abner Shimony của tôi thuộc số ít người trên thế giới là giáo sư trong cả hai ngành vật lí và triết học. Ông bảo hầu hết các nhà vật lí thực nghiệm hành xử rất kì quặc (schizophrenic). Đầu óc họ chia làm hai phần, một phần cho biết họ là người thực dụng khi họ làm việc trong phòng thí nghiệm. Họ nói về quang tử, về chuyển động của quang tử tới chỗ này chỗ kia và cứ thế. Nhưng mà nếu ta bảo họ, này, giờ ta hãy bàn về nền tảng của cơ học lượng tử thì họ sẽ quay qua khía cạnh triết học. Và họ sẽ bảo là, ôi, chả có gì tồn tại bên ngoài những dụng cụ dùng để xác định ra nó cả…

TJ: Cho nên Đức Đạt Lai Lạt Ma đang hỏi là theo quan điểm quí vị, hay theo quan điểm cơ học lượng tử, bởi những điều mơ hồ như vừa nêu thì liệu nói về thực tại tổng quát có nghĩa lí gì chăng?…

Zeilinger: Quí vị cũng biết vấn đề chỗ này là, nếu ta khảo sát chi tiết sự vật, đi vào bản chất sự vật, thì ta có thể làm tan biến mọi thứ.

Cho nên vấn đề này nhìn từ góc độ cơ học lượng tử, lối thoát là ở chỗ thừa nhận ta phải khởi đầu từ một vị trí nào đấy. Ta phải dựng nên thế giới quan của mình dựa trên một cái gì đó, mà thi thoảng ta hay gọi là thế giới quan cổ điển, hay ta có thể gọi là thế giới kinh nghiệm thường nhật. Ta tạo ra nó. Ta không nghi ngờ gì nó. Dựa trên cơ sở tính chất những gì ta vừa lĩnh hội, ta tạo ra hầu hết những mô tả khác. Kế đó ta quan sát nhiều thứ, thì theo một nghĩa nhất định khía cạnh lượng tử của vật thể trở nên không thực. Nên ở chỗ đó ta phải hết sức cẩn trọng khi bàn tới tính thực tại. Theo quan điểm nguyên sơ nhất thì tất cả những gì ta có thể nói là, đó là thế giới kinh nghiệm thường nhật. Ngoài ra thì hầu như mọi thứ khác cần phải cho thêm tí muối vào.

ĐĐLLM, AW và TJ [nói tiếng Tây Tạng]

Zeilinger: Ta cần cởi mở với bất kì mệnh đề nào bàn về thế giới. Chúng ta cần nhìn thoáng ra rằng quan niệm của ta về thế giới có khả năng sai hoàn toàn hoặc sẽ thay đổi, hoặc là, ta phải linh hoạt khi nói đến khía cạnh vừa rồi. Câu hỏi thuộc dạng quan trọng nhất chúng ta có thể đặt ra là, theo quan niệm của khoa học phương Tây về thế giới thì phải chăng chúng ta mới chỉ đưa ra một trong nhiều mô hình khả dĩ? Rất có thể tồn tại một loại vật lí hoàn toàn toàn khác biệt. Được hay chăng? Ta có nên khởi đầu lại nữa không? Có lẽ vai trò mà Galileo cũng như Newton đã đảm nhận sẽ còn có người tiếp nối. Với tôi thì những câu hỏi như thế thật hấp dẫn. Chúng ta có khả năng xây nên một khoa học hoàn toàn khác biệt không? Dĩ nhiên là tôi sẽ rất thích nếu tìm ra cách nào nhằm đương đầu với nghi vấn này. Mà tôi lại không biết…

AW: Ông Arthur ạ, chúng ta đang cố gắng tạo mối quan hệ với thế giới vĩ mô, ở đây tôi cho việc coi quang tử (photon) là thực thể mang thuộc tính thật vô nghĩa. Nghĩ rằng quang tử có cái gì đấy thực và độc lập trong số lượng khả năng hoàn toàn bất định và phi cục bộ của mọi thuộc tính, chỉ là vô nghĩa thôi. Mà Đức Đạt Lai Lạt Ma và ông Thupten Jinpa vừa nói, này khoan đã, ông đưa ra một khối những thứ vô nghĩa như thế, để rồi ông vẫn phải nheo mắt. Nghĩa là làm cách nào ông chuyển đổi từ luận thuyết về về ánh sáng ở thang lượng tử sang cái làm cho ông rám nắng? Hay là sang cái làm cho ông phải nheo mắt như ông thấy đó? Vừa rồi là cái tôi muốn nói nếu ông định đặt ra những mệnh đề có tính bản thể, rằng thế giới lượng tử chỉ tồn tại trong tương quan với hệ đo lường, hay tương tự như vậy…

Zajonc: Tôi cho rằng điều này đặt ông vào một tình huống tốt hơn, bởi khi ông làm bất cứ cái gì thì ông đều nói rằng mình làm phép đo lường, hoặc hãy gọi nó cho khái quát hơn, một cách thật sự nghiêm túc, là làm quan sát. Ông không thừa nhận sự hiện hữu của quang tử mà không cần đến thuộc tính bên ngoài, bởi vậy cái làm ông nheo mắt không phải là quang tử vốn không có thuộc tính làm cho ông nheo mắt. Mà cái đó là độ chói sáng. Độ chói sáng là có thật chứ không phải là thứ quang tử không thuộc tính. Ông có thể nói cái làm ông rám nắng là một thuộc tính cụ thể của ánh sáng. Chứ nó không là thuộc một cái gì khác đã tạo ra sự rám nắng. Những nhà duy vật sẽ nghĩ là ông không thể tạo ra một thế giới quan lành mạnh trừ khi ông phải thêm vào một số thứ.

AW: Chỗ này là chúng ta đang lặn rất sâu vào đại dương bản thể học đây. Tôi rất thích điều ông vừa nói, rằng chúng ta không thể quan niệm về quang tử tồn tại độc lập với hệ đo lường, nhưng mà ta cũng không thể nói một cách đơn giản nó là sản phẩm nhân tạo. Ông vừa đưa ra một tình huống kinh điển đòi hỏi ta tìm được phương pháp trung dung, là chỗ mà chủ thể cùng khách thể có quan hệ rất nguyên sơ, rất mật thiết. Một mặt điều này chính xác trong bản thân đạo Phật. Mặt khác, hình như mặt trời phát tán mọi thứ đi khắp hướng mà không màng đến bất cứ hệ đo lường nào. Hình như thế. Ông nghĩ sao về chuyện này…

Zajonc: Đây không phải là việc nhân cách hóa (anthromophic) thế này thế khác. Không phải vậy…

AW: Phải chờ đến khi tiến hành đo đạc chi li mọi nơi mới bảo là, được, này quang tử, mày chắc là hiện hữu. Được, mày có tính phân cực. Tôi nghĩ chúng ta cần tránh rơi vào cái mà phần đông giới khoa học gia hay mắc phải, là cục bộ hóa mọi vấn đề chỉ trong phạm vi phòng thí nghiệm. Thay vì vậy nên đưa chúng ra thế giới vĩ mô bên ngoài. Rằng nó có hàm nghĩa ra sao trong thế giới vĩ mô? Và đâu là những chủ điểm bản thể học có trong những hệ quả về mặt bản thể?

Zajonc: Thật hay.

AW: Tôi cho ngày nay ta cần làm chuyện này. Bằng không sẽ là cục bộ.

Zajonc: Sẽ rất khó khăn đấy. Nhưng mà hay…

ĐĐLLM và TJ [nói tiếng Tây Tạng]

AW: Vậy là chúng ta vừa đưa ra những mệnh đề bản thể học rất thú vị. Nhưng mà bây giờ, theo Đức Đạt Lai Lạt Ma vừa nói, dẫu sao thì ánh sáng rất chói. Mặt trời chiếu ánh sáng đi mọi hướng. Vậy khi quang tử đến từ mặt trời thì nó cũng không tồn tại độc lập với mọi hệ đo lường chứ? Ai đang làm phép đo? Giả như nhân loại biến mất – nghĩa là không còn người làm phép đo – thì ai sẽ tin là mặt trời không còn phát đi quang tử nữa? Nghĩa là làm cách nào để liên hệ cơ học lượng tử với thế giới thường nhật, với mặt trời, với các vì sao nhỉ?…

Zajonc:… Một ví dụ sau cùng cho chuyện này là các phân tử kết nối với nhau bằng liên kết cộng hóa trị – nên chẳng hạn, một phân tử hiđrô sẽ dựa trên tình trạng đa nghĩa đó, cái tình trạng đa nghĩa trong cơ học lượng tử, để gắn hai nguyên tử hiđrô hình thành một phân tử duy nhất. Bởi thế, nếu không có tình trạng đa nghĩa về mặt lượng tử thì tất cả ngành hóa học của chúng ta sẽ biến mất. Sự sống tự nó không thể định hình nữa. Cho nên đây không chỉ là một loại tính chất trừu tượng của quang tử hay được bàn trong các đại học đầy ắp tài chính…

ĐĐLLM [nói tiếng Tây Tạng]

TỪ VỤ NỔ LỚN ĐẾN VỤ CO LỚN – FROM THE BIG BANG TO THE BIG CRUNCH

TJ: Đức Đạt Lai Lạt Ma vừa nói rằng nếu ai đó phải thừa nhận chỉ có một Vụ Nổ Lớn…

ĐĐLLM: Vậy thì tại sao nó lại xảy ra?

TJ: Tại sao nó lại xảy ra? Đây thật sự là câu hỏi lớn.

ĐĐLLM: Đó là một phần của tự nhiên. Nếu nó tiếp diễn mãi mãi thì sẽ dễ chấp nhận hơn nhiều.

Zeilinger: Vâng, tôi hiểu những gì Đức Đạt Lai Lạt Ma vừa nói, nhưng tôi thật sự muốn để ngỏ câu hỏi đó.

ĐĐLLM: Thật vậy à! [cười]

AW: Đây là điểm an toàn. Một điểm đáng kể.

Zeilinger: Qúi vị đã biết một kết cục khác cũng được để ngỏ. Có hay không một Vụ Co Lớn là chuyện vẫn còn bỏ ngỏ. Chưa thể xác định được…

Zeilinger: Tôi sẽ không nói là nó thật sự hiện hữu… một vấn đề chưa có giải đáp. Giống như có câu chuyện kể là vào thời trung cổ người ta bàn tới chuyện có bao nhiêu thiên thần có thể ngồi trên đầu một cái kim. Có bao nhiêu? Thật là câu hỏi vô nghĩa. [cười]…

ĐĐLLM [nói tiếng Tây Tạng]

TJ: Trong một số kinh điển Phật học có viết rằng, trong tương quan thuộc sắc giới – có nghĩa là vật chất – thì không có điểm khởi đầu nào cho tính liên tục của chuỗi nhân quả. Nhưng lại có điểm kết cho tính liên tục ấy. Mà theo quan điểm…

Zeilinger: Một vấn đề khác là chuyện có hay không một Vụ Co Lớn…

ĐĐLLM: Vụ Co Lớn…

Zeilinger: Vụ Nổ Lớn và Vụ Co Lớn cùng nhau song hành. Cái ta cần là khối lượng vũ trụ đạt tới mức tối thiểu nào đó sao cho lực hấp dẫn đủ mạnh để làm nó co lại lần nữa. Bây giờ là đến chuyện khối lượng của những gì ta thấy trong vũ trụ, gồm các sao, các thiên hà. Tổng khối lượng của chúng tối đa chỉ bằng mười phần trăm khối lượng tới hạn (critical mass) cần có để tạo ra được Vụ Co Lớn. Nên người ta hay bàn tới vấn đề khối lượng bị mất mát. Rằng có loại khối lượng nào khác tồn tại trong vũ trụ có khả năng tạo ra Vụ Co Lớn hay không? Một trong số những khả năng đó là, có nhiều loại hạt có khối lượng nhưng rất khó nhìn thấy, gần như không thể nhìn thấy.

AW: Không thể nhìn thấy bởi chúng không mang điện tích hay sao?

Zeilinger: Vì chúng không tích điện và cũng không có những tính chất khiến việc dò tìm trở nên dễ dàng hơn. Chúng tương tác cực kì yếu ớt. Ứng viên của loại hạt này lâu nay là neutrino. Nó là loại hạt vô cùng nhỏ bé. Vấn đề từng đặt ra là “Neutrino có khối lượng nghỉ bằng không chăng?” Nếu ta làm nó ngừng chuyển động thì khối lượng nghỉ của nó có bằng không giống như quang tử không? Hay là nó có một khối lượng nghỉ nào đó dù là cực ít? Đây là đề tài thảo luận có từ lâu. Vì nếu neutrino có một khối lượng nghỉ dù là cực nhỏ thì với vô số hạt này ta có thể nói vũ trụ đang co lại. Điều này có thể làm vũ trụ đổ sụp thêm lần nữa. Mới cách đây hai tuần ở Nhật Bản người ta đã làm thí nghiệm nghiên cứu các neutrino tới từ mặt trời và công bố rằng chúng có khối lượng nghỉ. Họ tuyên bố đã tìm ra bằng chứng về khối lượng nghỉ của neutrino.

ĐĐLLM [nói tiếng Tây Tạng]

Zeilinger: Nếu tuyên bố này đúng thì vũ trụ rất có thể sẽ co lại.

ĐĐLLM: Vậy là chúng ta mắc kẹt rồi.

Zeilinger: Nhưng chưa phải trong cuộc đời hiện tại.

ĐĐLLM, AW và TJ [nói tiếng Tây Tạng]

TJ: Vậy kết lại là ta đang hướng tới một Vụ Co Lớn à?

Zeilinger: Vâng, đúng vậy. Nếu tuyên bố kia thật sự đúng thì có khả năng xảy ra thêm một Vụ Co Lớn.

AW: Thế ra nó cũng không nằm trên một điểm (cusp). Nó vượt quá một điểm và ta có thể nói đúng vậy.

Zeilinger: Không tồn tại những con số chính xác tại điểm đó. Những con số chính xác cũng chưa có – chẳng hạn khối lượng là bao nhiêu, vân vân. Nhưng mà chắc chắn là vấn đề lại được bỏ ngỏ. Vụ Co Lớn khả dĩ thật đấy nhưng nó sẽ không xảy ra trong quãng đời của chúng ta.

ĐĐLLM: Tôi cho là phải hàng tỉ.

Zeilinger: Hàng tỉ năm nữa.

Zajonc: Vụ Co Lớn là nguyên nhân rất hay cho chuyện tái sinh. [cười]

Zeilinger: Để mà chúng ta có thể quan sát nó. [cười]

AW: Vậy bây giờ các ông đặt chỗ được rồi đấy.

Zajonc: Chúng tôi sẽ gặp lại quí vị ở thời điểm đó.

Ghi chú

Tôi xin gửi lời tri ân tất cả quí vị đã ủng hộ và hiện thực hóa cuộc gặp gỡ này, nhất là ông Adam Engle, Viện Tinh Thần và Cuộc Sống cùng tất cả quí vị đã giúp cho khâu tổ chức. Tại Innsbruck thì khâu tổ chức đã được Andrea Aglibut làm rất tuyệt.

Dịch: Kan


Leave a Reply

Fill in your details below or click an icon to log in:

WordPress.com Logo

You are commenting using your WordPress.com account. Log Out / Change )

Twitter picture

You are commenting using your Twitter account. Log Out / Change )

Facebook photo

You are commenting using your Facebook account. Log Out / Change )

Google+ photo

You are commenting using your Google+ account. Log Out / Change )

Connecting to %s