Đạo Phật và Khoa học (05)– Khoa học thực nghiệm và sự giáo điều của duy vật luận khoa học (Phần 1)

Bìa sách “Buddhism and Science”

KHOA HỌC THỰC NGHIỆM VÀ SỰ GIÁO ĐIỀU CỦA DUY VẬT LUẬN KHOA HỌC

Phần này bàn về các đặc tính nổi bật của khoa học và duy vật luận khoa học. Tôi sẽ thường xuyên đề cập đến tác phẩm của Edward Wilson vốn là một khoa học gia tầm cỡ, và cũng là người biện tài tự nhận mình có vai trò khởi xướng duy vật luận khoa học và chủ nghĩa khoa học. Việc tôi đối thoại với Wilson trong phần giới thiệu này trong chừng mực nào đó có vẻ không tương xứng vì thực sự là ông rất ít nhắc đến đạo Phật. Nhưng bởi ông đã trình bày rất hay về duy vật luận khoa học là cái đã được nhiều khoa học gia lẫn người không làm khoa học công nhận rộng rãi, cũng là giáo điều làm nảy sinh nhiều trở ngại không thể vượt qua cho bất kì sự trao đổi nào có nghĩa giữa đạo Phật và khoa học. Wilson đưa ra năm đặc tính để phân biệt khoa học với các phương thức suy luận khác (53). 1. Đặc tính thứ nhất là tính khả lặp (repeatability), nghĩa là đặc điểm trong thí nghiệm về hiện tượng cần nghiên cứu phải kiểm soát được. Nhưng đặc tính này khó khả thi trong những khoa học như thiên văn học là ngành đã khởi đầu Cuộc Cách Mạng Khoa Học, hay như địa chất học, thành ra nó không đúng với mọi ngành khoa học tự nhiên. 2. Đặc tính thứ hai là tính hài hòa (economy), cụ thể là, việc thu thập tri thức phải theo cách giản dị nhất và thẩm mỹ nhất có thể được. Trong khi sự đơn giản là đại lượng có thể đo lường khách quan thì cái đẹp lại không thể. Ở chỗ này Wilson đã để lộ ra một yếu tố chủ quan dễ thấy trong hệ thống các lí thuyết khoa học. 3. Đặc tính thứ ba là sự đo lường (mensuration), nghĩa là khoa học chú tâm vào những thứ có thể đo lường được bằng hệ thống đơn vị đo được công nhận mọi nơi. Trong lúc phép đo định lượng rất lí tưởng cho những hiện tượng vật chất có tính khách thể (objective physical phenomena) thì nó ít khả thi cho những ngành khoa học nghiên cứu về hiện tượng tinh thần có tính chủ thể (subjective mental phenomena). Điều đó dẫn khoa học đến hai chọn lựa: hoặc (a) loại trừ trải nghiệm có tính chủ thể ra khỏi lĩnh vực khoa học, hoặc (b) phải thừa nhận khái niệm đo lường chính xác cần được xét lại khi nghiên cứu về tinh thần. 4. Đặc tính thứ tư là tính kế thừa (heuristics), nghĩa là khoa học nào ưu việt sẽ kích thích phát kiến sâu hơn. Hàm nghĩa ở đây là nếu một giáo điều khoa học nào cản trở phát kiến sâu hơn thì cần loại bỏ khỏi hệ tư tưởng khoa học. 5. Đặc tính cuối cùng do chính Wilson dẫn ra là tính tương thích (consilience), nghĩa là phát kiến khoa học nào tồn tại được là do nó có thể liên kết và chứng tỏ tính tương thích với phát kiến khác. Nhưng nếu tính tương thích là cần thiết để thống nhất mọi mặt trong thế giới tự nhiên như ông hình dung, thì nó phải bao gồm cả nghiên cứu thực nghiệm về trải nghiệm có tính chủ thể lẫn hiện tượng có tính khách thể, vậy mà Wilson không đưa ra được cách nào hợp nhất hai yếu tố trên vốn đều thuộc thế giới tự nhiên.

Giống hầu hết các nhà duy vật luận khoa học khác, Wilson đã trộn vào khoa học thực nghiệm những giả định siêu hình của duy vật luận khoa học, nhưng ngay sau đây tôi sẽ phản biện rằng duy vật luận khoa học đích thực là một giáo điều lâu nay ngăn trở nhiều phát kiến, nhất là phát kiến thuộc lĩnh vực tinh thần và trí tuệ. Khi dùng thuật ngữ giáo điều, tôi muốn biểu thị cái thế giới quan phổ biến và chặt chẽ gồm một hệ các niềm tin và thái độ làm nên sự bảo lưu cả về mặt lí tính lẫn cảm tính trong một ai đấy. Một giáo điều do đó có quyền năng vượt qua từng cá nhân hay cả cộng đồng, thậm chí vượt cả quyền năng của chính thực tế hay luận thuyết gắn với thực tế. Sự thật là một giáo điều vẫn có thể thịnh hành dầu nó mang nhiều luận cứ mâu thuẫn nhất, và có khả năng phát triển theo chiều hướng sốt sắng hơn nhiều khi xuất hiện những trở ngại. Giờ chúng ta hãy cùng xem xét vài giả định nền tảng trong giáo điều thuộc duy vật luận khoa học.

Chủ nghĩa khách quan (Objectivism) Vốn là khái niệm siêu hình, nguyên tắc của chủ nghĩa khách quan khoa học đòi hỏi người ta loại bỏ bất cứ cái gì có tính cá nhân, riêng tư, không thể kiểm soát, cá biệt, và bất quy tắc. Ngay cả nhiều sự kiện thường xảy ra trong thế giới tự nhiên bởi không hiện diện trong bức tranh về thực tại của giới khoa học nên cũng không được xem là thực tế. Vì thế, chỉ cần một nét bút siêu hình là đủ loại dạng trải nghiệm có tính chủ thể (subjective experience) ra khỏi tự nhiên, đánh đồng nó như là biểu thị cho loại hiện tượng thứ yếu, hay một ảo giác. Lối khẳng định của chủ nghĩa khách quan khoa học dẫn đến một quan điểm mà theo lời Wilson là “bên ngoài cái đầu của chúng ta là thực tại độc lập… Bên trong cái đầu của chúng ta là sự tái hiện thực tại nhờ tín hiệu do giác quan tiếp nhận và quá trình tự kết hợp các khái niệm” (60 – 61). Ông cho rằng nhiệm vụ tiên quyết của nhà khoa học là sắp xếp sự phản ánh thực tại có tính chủ quan trong đầu óc của chúng ta theo thế giới ngoại cảnh khách quan sao cho chính xác. Điều đó có nghĩa thế giới khách thể nằm bên trên thế giới chủ thể vốn bao gồm mọi dấu hiệu nhận được từ các giác quan, trong đó thế giới chủ thể chỉ tồn tại bên trong đầu óc của chúng ta. Vì thế, khi ông càng gắng xiển dương kinh nghiệm luận để đối lập với tiên nghiệm luận thì thực tế ông lại là một nhà tiên nghiệm sùng mộ sự hiện hữu của thế giới khách quan cùng tri thức về nó. Ông quan niệm “thế giới thưc” là lãnh địa của khoa học và nó vượt lên trên mọi dữ liệu thực nghiệm, rằng ta chỉ có thể hiểu gián tiếp về thế giới thực bằng cách tái hiện trong đầu mình. Wilson trong lúc phải thừa nhận là khoa học hiện đại chưa có tiêu chí nào cho chân lí khách quan, thì ông lại đặt niềm tin vào phát kiến của khoa học não bộ trong tương lai với hy vọng rằng chúng sẽ làm sáng tỏ nền tảng vật chất nào làm nên quá trình suy nghĩ, và do đó làm sáng tỏ bản chất tinh thần (Wilson 1998: 60,64).

Giản hóa luận (Reductionism) Wilson đặt nền tảng quan trọng cho giản hóa luận mà ông cho là điểm ưu việt của khoa học. Nó chia nhỏ tự nhiên thành các phần tử trực thuộc. Giản hóa luận với vai trò một chiến lược nghiên cứu đã chứng tỏ độ hữu dụng trong vô vàn trường hợp suốt lịch sử khoa học. Nhưng phương pháp này cần được dùng sao cho khéo. Chẳng hạn trong khoa học não bộ, nếu ai đó tập trung vào mối quan tâm của một người khác đến những hạt hạ nguyên tử riêng biệt, hay nguyên tử, phân tử, tế bào, thậm chí cả hệ trung khu thần kinh riêng biệt, thì góc nhìn hạn hẹp quá mức đó sẽ ngăn cản việc thấu hiểu toàn thể quá trình diễn ra trong những khu vực khác của bộ não. Hơn nữa, nếu ai đó chỉ chú tâm đến mỗi chức năng khách quan của bộ não mà bỏ qua các sự kiện tinh thần chủ quan, thì kiểu giản hóa luận trên sẽ cản trở họ khám phá ra mối tương quan tinh thần – não bộ. Tất cả những gì người ta biết được chỉ là bộ não tự nó không cho thấy bất cứ bằng chứng khách quan nào về sự tồn tại của trí tuệ, hoặc của bất kì trải nghiệm nào có tính chủ quan! Vì vậy, nếu ai đó giả định một cách giáo điều là tinh thần không có gì khác hơn một chức năng của não bộ như Wilson đã giả định, thì sự bảo thủ này đã khẳng định tinh thần vẫn là cái gì đó bí ẩn trong khi chúng ta đã có trải nghiệm về tinh thần từ trước rồi. Và nếu mọi tái hiện thế giới khách quan chỉ tồn tại trong đầu óc chúng ta, thì kiểu giản hóa luận như trên vẫn để lại cho thế giới khách quan một bí ẩn siêu nhiên. Hay nói khác đi là khẳng định theo lối bản thể của Wilson về giản hóa luận dường như đã hạ thấp toàn bộ tư tưởng về tính tương thích của ông.

Nhất nguyên luận (Monism) Mọi nhà duy vật luận khoa học đều tán đồng hết mình cho luận điểm toàn bộ vũ trụ được cấu thành bởi một thực thể nền tảng, đó là vật chất. Họ cho rằng bất cứ kiểu phân tách nào xuất phát từ luận điểm trên tất yếu sẽ dẫn chúng ta quay lại lối nhị nguyên luận Cartesian lạc hậu và điều tiếng, vốn từng đưa ra dạng tồn tại chính của mọi thứ là dựa trên hoặc tinh thần hoặc vật chất. Nhưng mà sao ta cứ phải giới hạn trí tưởng tượng trong mỗi hai lựa chọn đó? Hãy xét đến tính bản thể của con số, như số thực với hằng số hấp dẫn hay hằng số Planck, như số ảo hay số phức, xét tính bản thể của các định lí toán học, không gian, thời gian, tư tưởng, cảm giác, ảnh tượng trong mơ, trí tuệ. Tại sao ta cứ phải tin rằng mọi hiện tượng nêu trên thực chất chỉ cấu thành từ một thực thể? Tại sao thế giới tự nhiên không cấu thành từ nhiều hiện tượng vật chất lẫn phi vật chất đa dạng? Chỉ có nguyên tắc nhất nguyên luận giáo điều mới ngăn cản ta đề cập đến nhiều khả năng khác nữa.

Dịch: Kan

Leave a Reply

Fill in your details below or click an icon to log in:

WordPress.com Logo

You are commenting using your WordPress.com account. Log Out / Change )

Twitter picture

You are commenting using your Twitter account. Log Out / Change )

Facebook photo

You are commenting using your Facebook account. Log Out / Change )

Google+ photo

You are commenting using your Google+ account. Log Out / Change )

Connecting to %s