Đạo Phật và Khoa học (02) – Tôn giáo và khoa học có tách biệt?

Đây là loạt bài dịch từ sách “Buddhism and Science” do Alan Wallace biên tập, là một tập hợp các trao đổi giữa Đức Đạt Lai Lạt Ma với các nhà khoa học thuộc nhiều lĩnh vực khác nhau về sự tương giao giữa đạo Phật và Khoa học. Loạt bài này do Kan dịch từ bản tiếng Anh, xin tặng cho bác nào quan tâm đến chủ đề trên. Và cháu cũng xin tặng cho ông Đào Viên, người chủ trang Vườn Đào như một món quà nhỏ đáp lại nhiều món quà ông đã tặng cho mọi người, trong đó có cháu. Trân trọng.

Kan

Bìa sách Buddhism and Science

Tựa sách: Đạo Phật và Khoa học
Tác giả: nhiều người viết – biên tập: B. Alan Wallace
NXB: Columbia University
Năm XB: 2003
ISBN: 0-231-12334-5

 

B. ALAN WALLACE

Nhiều năm là tu sĩ tại các tu viện đạo Phật ở Ấn Độ và Thụy Sĩ, Alan Wallace đã giảng Phật pháp và cách thực tập tại Châu Âu và Hoa Kỳ từ năm 1976 đồng thời đóng vai trò phiên dịch cho rất nhiều học giả cũng như đạo sư Tây Tạng, trong đó có Đức Đạt Lai Lạt Ma. Sau khi tốt nghiệp ngành vật lý và triết học của khoa học hạng summa cum laude tại Đại học Armhest, ông nhận bằng thạc sĩ rồi tiến sĩ ở Đại học Stanford với nghiên cứu chủ đạo là phương pháp chiêm nghiệm trong việc thực hành nhiếp tâm. Ông từng là giảng viên tại Trung tâm cao cấp Tây Tạng học (Thụy Sĩ), Viện nghiên cứu Phật học Hoa Kỳ thuộc UCLA, và Đại học California Santa Barbara. Hiện là học giả kiêm thiền sư độc lập, ông giảng dạy thiền định khắp Châu Âu và Hoa Kỳ và là tác giả, biên tập viên, dịch giả, đồng tác giả hơn ba mươi tác phẩm về đạo Phật Tây Tạng, về y khoa, ngôn ngữ, văn hóa cũng như về sự tương hợp giữa khoa học và tôn giáo. Những ấn phẩm của ông gồm Choosing Reality: A Buddhist View of Physics and the Mind (Snow Lion, 1996), The Bridge of Quiescence: Experiencing Buddhist Meditation (Open Court, 1998), The Taboo of Subjectivity: Toward a New Science of Consciousness (Oxford, 2000).

B. Alan Wallace

Lời giới thiệu: Đạo Phật và Khoa học – xóa đi ngăn cách

Một tác phẩm bàn về đạo Phật và khoa học được ấn hành dựa trên tiền giả định là hai chủ thể này có thể được đề cập một cách tương xứng, đồng thời mối tương giao giữa một bên là đạo pháp và sự hành trì đạo Phật với một bên là lí thuyết khoa học và phương pháp suy luận sẽ mang lại kết quả tốt đẹp. Tuy vậy vẫn có nhiều bất đồng từ ngoại cảnh với tiền giả định trên, nên tôi sẽ mở đầu tác phẩm này bằng cách trình bày vài quan điểm phản đối việc ghép đôi đạo Phật với khoa học cùng hồi đáp của tôi cho vấn đề này. Quan điểm đầu tiên cho rằng tôn giáo tách biệt với khoa học, chủ điểm của đôi bên phần lớn loại trừ nhau vì thế có rất ít nếu không muốn nói là chẳng có gì để hai bên có thể bàn luận cả. Tôi sẽ đáp lại khẳng định trên bằng cách, trước hết là phân tích xem đạo Phật có phải là một tôn giáo hiểu theo khái niệm của phương Tây cho từ này hay không, sau đó tôi sẽ trình bày một số yếu tố trong đạo Phật đáng được coi là có tính khoa học. Kế đến tôi sẽ phân biệt giữa bản thân cái khoa học kiểu độc đoán với cái giáo điều trừu tượng thuộc duy vật luận khoa học, mà người ta vẫn hay lẫn lộn giữa hai yếu tố này. Tiếp theo tôi đề cập đến phê bình của những người khởi xướng thuyết hậu hiện đại cho là đạo Phật và khoa học mang vốn văn hóa riêng biệt nên căn bản không thể so sánh hai thực thể này. Sau cùng, tôi sẽ trình bày đề nghị cho cách tiếp cận có tính đối thoại trong nghiên cứu đạo Phật cũng như khoa học giúp làm phong phú thêm mỗi bên, đồng thời từ từ mở rộng hiểu biết của chúng ta cả trên phương diện chủ thể lẫn khách thể của giới tự nhiên.

TÔN GIÁO VÀ KHOA HỌC CÓ TÁCH BIỆT?

Phần lớn số tư tưởng gia tôn giáo chủ yếu cũng như khoa học gia đều cho rằng tôn giáo và khoa học là độc lập và tách biệt nhau chứ không hẳn là đối lập nhau như nhiều người thường nghĩ. Mỗi bên có phạm trù riêng, phương pháp riêng mà chỉ lĩnh hội được từ chính những yếu tố nằm trong mỗi lĩnh vực chứ không thể từ lĩnh vực kia. Một khoa học gia xuất chúng là nhà cổ sinh vật học Stephen Jay Gould đại diện cho quan điểm này. Trong quyển Rock of Ages: Science and Religion in the Fullness of Life, ông lập luận rằng hai thực thể này đương nhiên tách biệt, mỗi bên có phương pháp suy luận khác nhau và theo đuổi mục đích riêng. Nhưng thay vì nói hai bên chẳng liên quan gì đến nhau ông lại nhấn mạnh rằng cần kết hợp quan điểm của cả hai để tạo dựng quan niệm đầy đủ và phong phú hơn về cuộc sống (Gould 1999:29). Tư tưởng chủ đạo của ông là mỗi phạm trù có thẩm quyền riêng, trong đó địa hạt của khoa học là kinh nghiệm luận hay duy nghiệm, bàn về việc vũ trụ cấu thành và vận động như thế nào; còn địa hạt của tôn giáo mặt khác lại là mục đích, ‎ý nghĩa và giá trị của đời sống nhân loại. Giải pháp của ông cho những xung khắc dễ thấy giữa tôn giáo với khoa học là mỗi bên phải tồn tại độc lập trên tinh thần tôn trọng nhưng không có quan hệ với nhau. Pháp điển không nên đọc như tài liệu khoa học, còn khoa học gia không nên bác bỏ nền tảng của đức tin tôn giáo (93).

Nhà thần học Langdon Gilkey cũng có quan điểm tương tự khi ông cho rằng tôn giáo xoay quanh mục đích và ý nghĩa cuộc đời, nguồn gốc tối thượng và định mệnh, cũng như trải nghiệm nội tâm của con người. Ngược lại, khoa học có mục đích lí giải dữ liệu dựa trên các thuyết hợp lí, nhất quán, tương thích và kiểm chứng được bằng thực nghiệm định tính (Gilkey 1985:108 – 116).

Không nhiều khoa học gia hay tín đồ tôn giáo xét đến khía cạnh ôn hòa do mỗi chủ thể riêng biệt mang lại. Chẳng hạn nhà động vật học Richard Dawkins lập luận khá sâu sắc, rằng tôn giáo không thể vượt khỏi phạm vi của khoa học; rằng giữa đôi bên có nhiều khác biệt không cách gì hòa hợp được. Từ thời điểm tôn giáo không còn giới hạn mình ở ý nghĩa và giá trị cuộc sống mà đưa ra khẳng định về bản thể thì khoa học phải phê phán những đức tin hay giáo điều của thực thể này (Dawkins 1999:62 – 64).

Nhà sinh học xã hội Edward O. Wilson lại có quan điểm không rõ ràng về mối quan hệ giữa khoa học và tôn giáo. Trước tiên ông định nghĩa khoa học là “công việc thu thập tri thức về thế giới có hệ thống, có tổ chức và cô đọng tri thức thành nguyên lí và định luật kiểm chứng được” (Wilson 1998:58). Bằng cách này ông cho rằng quá trình tích lũy kiến thức của con người là có tổ chức và có tính định hướng, rằng nhờ phương tiện trung gian như vậy mà mọi người khắp nơi có thể thống nhất với nhau theo một cách hiểu phổ biến. Ông định nghĩa tôn giáo là “một tập hợp những câu chuyện huyền hoặc về nguồn gốc và định mệnh con người, cũng như lý do buộc họ phải tuân theo nghi lễ hay thánh điển” (247).

Thoạt nhìn dường như Wilson đồng quan điểm với Gould, cho là hai thực thể này có thẩm quyền riêng biệt. Ông cho rằng vai trò thích hợp cho tôn giáo là hệ thống hóa các giá trị nhân tính cao qúi nhất một cách thi vị, bền vững đồng thời phù hợp với kiến thức thực tiễn. Còn khoa học có nhiệm vụ không ngừng kiểm nghiệm mọi giả thuyết liên quan đến thân phận con người, đồng thời bằng cách đó khoa học rốt cục sẽ lột bỏ dần cái gốc rễ của xúc cảm luân lý hay tôn giáo. Đây dường như là lời khẳng định sự tách biệt đã quen thuộc giữa một bên là yếu tố thực tế trong khoa học và bên kia là yếu tố giá trị trong tôn giáo.

Dễ thấy là Wilson đồng quan điểm với Dawkins khi ông coi điều kiện để có được sự hợp nhất tuyệt đối về tri thức là, mọi khẳng định thuộc đức tin tôn giáo phải được kiểm chứng bằng thực nghiệm theo phương pháp luận khoa học có tính khách quan. Theo đó thì sự tồn tại của đấng tối cao là một vấn đề thuộc vật lý thiên văn, còn bản chất của tinh thần hay tâm hồn con người được xem như điểm giao giữa hai ngành sinh học và tâm lý học với những thuật ngữ chẳng hạn: tế bào não, xung thần kinh, sự tăng trưởng hormone, mạng thần kinh hồi quy. Ông tuyên bố chỉ bằng cách này nhân loại mới có thể tìm ra những quá trình ở quy mô tế bào nào đã hình thành nên tinh thần của chúng ta. (241, 99 – 100). Cũng do đó mà mọi giáo lý về bản chất vũ trụ, bản chất con người sẽ được thay bằng các lý thuyết khoa học vốn “thỏa đáng hơn và kì vĩ hơn mọi kiểu vũ trụ luận của tất cả mọi tôn giáo gộp lại” (265). Trong phân tích cuối cùng ông khẳng định là hai loại niềm tin, một là vào đấng tối cao và một là vào sinh học, thì thật sự không thể tương hợp được. “Kết quả là những ai khao khát cả chân lý từ óc suy luận lẫn từ tôn giáo sẽ không bao giờ lĩnh hội đầy đủ được cả hai”. (262)

(Phần 2: Đạo Phật có đơn thuần là tôn giáo không?)

Dịch: Kan

6 responses to “Đạo Phật và Khoa học (02) – Tôn giáo và khoa học có tách biệt?

  1. (đây là phần bàn loạn của Kan ở 1 chỗ khác, gửi vào đây để mọi người xem cho vui! ^^)

    Các bác! Lại quay lại ban đầu, nhiều khi ta tự hỏi tại sao lại có quyển sách này? Tại sao 1 ông khoa học đàm đạo với 1 ông sư? Tại sao ta lại tìm đọc quyển này nhỉ? Ta đi tìm gì ở đạo Phật và ở Khoa học?

    Ka Ngố tui thì nghĩ thế này! Như đã nói ở trên, đạo Phật và Khoa học cùng đi tìm đến “thực tại”, nói đơn giản, là “sự thật”. Khoa học đi tìm sự thật về bản chất tự nhiên và sự vận hành của tự nhiên; đạo Phật đi tìm sự thật trong “Bốn sự thật màu nhiệm” (Tứ diệu đế).

    Vì tiêu chí của cả hai là sự thật nên, ta phải thừa nhận rằng ta thường tin những gì được phát biểu nhân danh Khoa học hoặc nhân danh đạo Phật, hơn là những phát biểu nhân danh chính trị, lịch sử, kinh tế… Chẳng hạn, đa phần chúng ta ko hiểu ông Einstein ổng nói cái gì trong thuyết tương đối (trong đó có tui) nhưng đều gật gù ổng là khoa học gia vĩ đại! Hay nhiều người đi chùa lễ Phật cầu xin thứ này thứ khác mà ko biết ông Phật là ai và ổng nói cái gì!

    Vậy thì, Khoa học và đạo Phật, cả hai đều hướng tới sự thật. Nhưng cách làm thì khác nhau. Khoa học đi tìm sự thật ở bên ngoài con người, hướng ngoại, cho nên ngày càng đi xa hơn về những thế giới vĩ mô như vũ trụ và vi mô như hạt cơ bản. Còn đạo Phật đi tìm sự thật ở bên trong con người, hướng nội, nên đạo Phật chủ yếu nói về tâm và thân của chúng ta.

    Như tôi đã nói ở các phần trước, Khoa học và đạo Phật có nhiều điểm chung, tiêu biểu là không giáo điều, và có nhiều điểm riêng mà cái hướng ngoại và hướng nội kia là một ví dụ.

  2. Nhiều người cho là Khoa học và Tôn giáo là 2 thực thể nghịch nhau, cái đầu dựa trên lý trí, cái sau dựa trên niềm tin. Và trong thế giới ngày nay khi mà lý trí càng lúc càng chiếm ưu thế bởi những ưu điểm của nó, thì Khoa học ngày càng được đề cao và Tôn giáo ngày càng được đề…thấp!

    Nhưng nếu chúng ta suy xét 1 chút, ta sẽ thấy Khoa học cũng có tính chất Tôn giáo, nghĩa là, dựa vào niềm tin! Ở trên, tôi đã nói về Einstein. Ông ko khác mấy địa vị 1 giáo chủ, vì đa số chúng ta TIN ông là 1 khoa học gia vĩ đại mà ko hiểu ổng nói cái gì!

    Một ví dụ khác cụ thể hơn. Ai trong chúng ta mà chưa từng học hình học Euclid với tam giác, đường tròn, mặt cầu… và dùng nó để xây nhà, đo đất, tính khoảng cách v.v. Trong hình học Euclid có 1 cái gọi là HỆ TIÊN ĐỀ, mà ta chỉ có thể tin hay không tin, thế thôi, chứ ko cách gì dùng lý trí để chứng minh được! Nghĩa là, Khoa học cũng phải có chỗ cho niềm tin, chứ ko hoàn toàn chỉ có lý tính đơn thuần!

    Đó là nói về Toán học, 1 khoa học hình thức (formal science). Bây giờ hãy nói về khoa học thực nghiệm (empirical science). Niềm tin trong khoa học thực nghiệm nằm ở chỗ nào? Đó là máy móc, hay thiết bị quan sát. Nếu ta lấy 1 ly nước và bảo với 1 đứa bé 7 tuổi là trong đó có vô số sinh vật, nó sẽ cười ta: “Chú/ bác/ anh/ chị rõ ngớ ngẩn, cháu chả thấy gì!” Ta tức cành hông, dí mắt nó vô kính hiển vi thì nó hết cười ngay: “Ồ! Té ra cháu mới ngớ ngẩn!”

    Vậy ta phải thấy khoa học thực nghiệm phụ thuộc rất nhiều vào thiết bị quan sát. Hiện nay ta biết HIV có dạng “quả mít”, chỉ có thế! Nhưng ngày nào đó ta có được loại kính hiển vi mạnh gấp tỉ lần hiện nay chẳng hạn, biết đâu khi ta soi vào con HIV sẽ thấy trong nó là cả 1 thế giới với đủ loại sinh vật khác nữa, nhỉ!

    Ngoài ra, có những thực thể tồn tại sờ sờ ra đấy nhưng không có máy móc thiết bị nào đo được! Bạn cần 1 ví dụ? Thì SUY NGHĨ của chúng ta đấy chứ đâu xa! Suy nghĩ của chúng ta, chẳng phải hạt cơ bản, cũng chẳng phải sóng điện từ, cũng chẳng phải lưỡng tính sóng – hạt gì ráo, cho nên dù biết mỗi giây có hàng ti tỉ suy nghĩ bay vèo vèo đâu đó thế mà chả có máy móc nào thu được cả! Bạn thấy đấy, khoa học không có cách gì chứng minh được sự tồn tại của suy nghĩ, bằng công thức toán học, bằng mô hình hay thực nghiệm vật lý, vậy ta nên nói rằng suy nghĩ không tồn tại?

    Vừa rồi là vài ý của KAN tui về khoa học, để muốn chia sẻ với mọi người rằng, khoa học có phạm vi và nhược điểm của nó, ta không nên cho rằng khoa học sẽ giải quyết được mọi chuyện. Ngược lại, với đạo Phật, tôi nói ở đây với tư cách 1 Phật tử, ta cũng không nên cho rằng đạo Phật giải quyết được mọi chuyện! Đơn giản là, ta đi tìm cái gì và để giải quyết chuyện gì?

    KAN

  3. Rất cám ơn KAN đã có nhã ý nhớ đến tôi trong bài viết.
    Tôi nghĩ là tài liệu của ông Alan Wallace mà anh KAN đã chọn để dịch là một tài liệu rất quý, rất hữu ích.
    Vì đây là một vấn dề rất khó khăn, không mấy người hiểu toàn vẹn, nên chúng ta cần đến những người như ông Wallace, vừa là một nhà khoa học gia, vừa là một Thiền sư, để có thể tiếp cận, phân tách, trình bầy kiến giải của mình cho mọi người hiểu được.

    Cho đến bây giờ, theo tôi hiểu, một kẻ phàm phu, đứng ngoài cửa tòa nhà báu Như Lai, hình ảnh dảm dị và dễ hiểu nhất cho Khoa Học và Đạo Học là một cái Venn Diagrram của hai phạm trù Khoa học và Đạo học, có hai vòng tròn có một phần chung, tượng trưng cho Thân và Tâm của sự Sống.

    Đấy mới là cái nhìn (lưỡng phân) của kẻ phàm phu. Nhiều sách nói rằng cái nhìn của đấng giác ngộ, một khi đã đi đến, đã tri kiến được cái Bất Nhị thì tất cả chỉ còn là một vòng tròn của Pháp Giới, một là tất cả, tất cả là một. Nhìn Khoa học và Đạo học là hai sự khác nhau cũng được, hay chỉ là một sự cũng được (không khác).

    Mình chỉ là kẻ phàm phu, chúng ta hãy nên xem cái Venn Diagram của ông Alan Wallace trước đã.

    Rất mong anh KAN tiếp tục dịch các phần dưới cho các độc giả vào xem cho được đầy đủ.

    Một lần nữa, cám ơn anh KAN rất nhiều.
    Đào Viên

  4. Thưa ông Đào Viên!

    Cháu thật vui vì nhận được phản hồi của ông. Thưa ông, từ lâu cháu đã quan tâm đến khoa học, còn đạo Phật cháu hay gọi là “Nhà”. Quả là như ông nói, ông Wallace cùng với ông Matthieu Ricard là những vị có trải nghiệm sâu rộng cả trên hai lĩnh vực này, nên đọc những tác phẩm của hai ông thật thích ông nhỉ!

    Nguyên nhân trực tiếp làm cháu bắt tay dịch quyển này là do cháu có vài người bạn dạy đại học tại Mỹ, khi nói về đạo Phật là họ lại dán nhãn nào là “tôn giáo” nào là “triết học”! Thưa ông, cháu thú thật là cháu phát ngấy với cái lối “dán nhãn” của phương Tây, họ hơi kiêu ngạo, luôn muốn lấy những tiêu chuẩn của họ để nhận xét một thực thể không quen thuộc với truyền thống của họ, mà cụ thể ở đây là đạo Phật.

    Nên cháu luôn bảo với bạn bè mình: “xin đừng dán bất cứ cái nhãn nào cho đạo Phật, đạo Phật là đạo Phật, có vậy thôi!”

  5. Vâng ông ạ! Cháu luôn tò mò rằng trạng thái của Đức Như Lai, bậc giác ngộ là như thế nào nhỉ? Cháu vẫn biết là trạng thái ấy không có ngôn từ nào diễn đạt đầy đủ, nhưng cháu vẫn tò mò! ^^ Một hôm cháu chợt nghĩ: 1 giấc ngủ say khỏe khoắn, không bị tác động, không mộng mị, phải chăng là 1 ví dụ nhỏ của trạng thái giác ngộ, của Niết Bàn? Nếu như thế, thật đúng là Nhà Phật thường nói, Phật tính đã sẵn có trong mỗi người, ông nhỉ!

    Quả thật hình ảnh giản đồ Venn ông nhắc là 1 ví dụ thật gần gũi cho sự tương giao giữa Đạo học và Khoa học, giữa Tâm và Thân. Cháu cũng đang đứng ngoài cửa Nhà của các bậc giác ngộ, đang nương theo chỉ dẫn của các bậc trưởng thượng như ông Wallace để biết rõ hơn lối vào.

    Cháu xin cảm ơn ông đã khích lệ cháu trong việc dịch quyển sách này. Cháu đang làm từng chút một, phần nào xong cháu sẽ gửi lên nhờ ông và mọi người góp ý giúp cháu. Mục đích sau cùng của cháu không gì khác là làm vì niềm vui ông ạ!

    Kính mến.
    Cháu

  6. Thưa ông Đào Viên,

    Nhân đề tài này cháu xin chia sẻ với ông thêm vài ý nhỏ của cháu về đạo Phật và khoa học. Xứ mình hiện giờ cũng có không ít các bài viết về đạo Phật và khoa học. Nhưng cháu nhận thấy ý chung là như thế này ông ạ: “nhiều tri kiến của đạo Phật đã được xác nhận là phù hợp với tinh thần khoa học.” Câu nói của Einstein về đạo Phật được trích dẫn rất nhiều.

    Nhưng cháu nghĩ cách làm như vậy cũng không thật đúng đắn. Khi làm như vậy, ta vô tình nhờ khoa học “công nhận tính đúng đắn và hợp thời” của đạo Phật! Lại 1 lần nữa đạo Phật không tự đứng trên đôi chân của mình mà phải nhờ vả tới đôi chân của khoa học.

    Thành ra cháu sẽ cố gắng dịch quyển sách này, dù cháu hiểu sức cháu có hạn, để mọi người rõ hơn về những tương đồng và dị biệt của đạo Phật và khoa học như hình ảnh giao nhau của 2 giản đồ Venn mà ông gợi ý cho cháu.

    Kính mến.
    Cháu

Leave a Reply

Fill in your details below or click an icon to log in:

WordPress.com Logo

You are commenting using your WordPress.com account. Log Out / Change )

Twitter picture

You are commenting using your Twitter account. Log Out / Change )

Facebook photo

You are commenting using your Facebook account. Log Out / Change )

Google+ photo

You are commenting using your Google+ account. Log Out / Change )

Connecting to %s