Đạo Phật và Khoa học (06)- Khoa học thực nghiệm và sự giáo điều của duy vật luận khoa học (Phần 2)

Bìa sách “Buddhism and Science”

Chủ nghĩa vật chất (Physicalism; khác với chủ nghĩa duy vật – materialism) Kể từ thời Galileo trở đi mọi công cụ nghiên cứu khoa học được thiết kế chỉ để đo lường các hiện tượng vật lí. Cho nên có loại hiện tượng nào khác tồn tại thì nó cũng nằm ngoài phạm vi của khoa học, và khoa học ngày càng tiến triển theo cách như vậy. Tuy nhiên, những đại biểu cho nguyên tắc siêu hình thuộc chủ nghĩa vật chất từng kết luận chỉ có hiện tượng nào được phát hiện bằng công cụ khoa học mới thật sự hiện hữu. Họ tin vũ trụ chỉ cấu thành duy nhất bởi vật chất và thuộc tính sinh ra bởi vật chất. Để hiểu nguyên tắc này quan trọng là cần biết vật chất đang nghi vấn ở đây không phải là thứ chúng ta hay tiếp xúc trong đời thường. Ví dụ, một viên đá nằm trong bàn tay do kinh nghiệm nên ta biết nó có màu sắc, cấu trúc, cân nặng nhất định. Nhưng theo Wilson thì mọi tính chất trên của hòn đá chỉ là thuộc tính thứ yếu, chúng không tồn tại trong thế giới khách quan mà chỉ là sự tái hiện trong đầu chúng ta. Vật chất theo duy vật luận khoa học là thực thể làm nền tảng cho vũ trụ khách quan, nó tồn tại độc lập với mọi thuộc tính thứ yếu vốn chỉ phát sinh trong tương quan với chủ thể có tri giác. Tính chất thật sự của vật chất là thuộc tính chính yếu, có nguồn gốc từ vật chất, tồn tại độc lập với mọi phương pháp dò tìm.

Ngày nay khoa học biết được gì về bản chất của vật chất? Nhà vật lí công nhận vật chất cấu thành bởi nguyên tử, còn nguyên tử lại được cấu thành từ các hạt hạ nguyên tử như electron và proton. Sau đó xuất hiện các phỏng đoán đi xa hơn liên quan tới quark, siêu dây hay khác nữa, những loại phỏng đoán như thế liên hệ tới các bộ phận của hạt cơ bản. Nhưng bản chất thực về nền tảng cấu thành vũ trụ kiểu như trên bị tính huyền hoặc bao phủ. Vài nhà vật lí quan niệm nguyên tử là thuộc tính phát sinh bởi không gian hoặc không – thời gian. Thế nhưng họ đang nói đến loại không gian nào mới được? Vì hiển nhiên là có vô số dạng không gian khả dĩ ứng với từng hệ hình học của chúng, và giá trị cũng như tính tự nhất quán của mỗi loại không gian là như nhau. Một số nhà vật lí khác cho rằng nguyên tử không hề là một vật mà nó nên được coi như một tập hợp các mối liên hệ (Wallace 1996:55).

Continue reading

Mừng sinh nhật

Một góc thiền viện Bát Nhã, Bảo Lộc, Lâm Đồng

Hôm nay là sinh nhật của một người. Để mình kể lại vài chuyện trong cuộc đời của vị này cho mọi người đọc, biết đâu thêm được vài thông tin nho nhỏ.

Ông sinh ra trong một gia đình danh giá, cha ông rất kì vọng ông sẽ nối nghiệp mình nhưng ngay từ nhỏ ông đã có thiên hướng khác. Khi đến tuổi trưởng thành thiên hướng riêng của ông càng bộc lộ rõ ràng hơn, và cha ông rất buồn.

Một ngày kia, ông đã rời gia đình, rời cha mẹ, vợ con để theo đuổi thiên hướng của mình. Ông đã đi nhiều nơi để học hỏi rồi sau đó tự mình làm việc. Thật không may là ông đã mất sáu năm sống vô cùng cực khổ nhưng vẫn thất bại. Ông phải tìm hướng đi khác và sau đó ông đã thành công.

Sau này ông trở nên nổi tiếng, được nhiều người ngưỡng mộ. Nhưng cũng có nhiều kẻ rất ghét ông, thóa mạ ông không tiếc lời, dùng đủ mọi cách để làm mất thanh danh của ông. Thậm chí, chính một người thân cận với ông đã tìm cách giết hại ông! Khi ông qua đời, một học trò của ông đã nói đại để, từ nay mình có thể làm gì mình muốn mà không sợ ông rầy nữa!

“Ông” là ai? “Ông” chính là Thái tử Siddhārtha (Tất Đạt Đa), là sa môn Gautama (Cồ Đàm), là Tathāgata (Như Lai), là Đức Phật hay Bụt Đà của chúng ta vốn có nghĩa rất giản dị là Bậc Giác Ngộ hay Người Tỉnh Thức. Và hôm nay là ngày Phật Đản, ngày Bậc Giác Ngộ ra đời.

Qua vài chuyện kể trên, chúng ta thấy ngay cả Đức Phật mà cũng gặp rất nhiều trở ngại, thành ra như mình đây gặp trở ngại cũng là chuyện thường thôi mà! Nhân dịp Đức Phật đản sinh, xin kính chúc mọi người thân tâm an lành. Trân trọng.

Ngày Phật Đản, Phật lịch 2554

Kan

Allez l’OM

For Matias and Mr Văn, my good friends.

I never forget that day, far back to a hot summer night in 1993, when my favorite French football club Olympique de Marseille met Italian giant Milan A.C in the final match of C1 competition which is now called European Champions League. I watched this match on a 14 inches Hitachi black and white TV set and for the first time I could see my admired players who dominated France football those days. My OM finally won this title after beating Milan 1 – 0 from the only goal scored by Basile Boli, that was the greatest victory throughout history of the club which had these players such as Desailly, Voller, Boksic, Barthez and the 25 year-old captain Deschamps who lifted World Cup and Euro trophy later with France national team. In the squad of the losers those days were Van Basten, Rijkaard, Baresi, Maldini and sadly Jean – Pierre Papin who had just left OM to join Milan. And Papin actually is the player I ever like most.

Continue reading

Đạo Phật và Khoa học (05)– Khoa học thực nghiệm và sự giáo điều của duy vật luận khoa học (Phần 1)

Bìa sách “Buddhism and Science”

KHOA HỌC THỰC NGHIỆM VÀ SỰ GIÁO ĐIỀU CỦA DUY VẬT LUẬN KHOA HỌC

Phần này bàn về các đặc tính nổi bật của khoa học và duy vật luận khoa học. Tôi sẽ thường xuyên đề cập đến tác phẩm của Edward Wilson vốn là một khoa học gia tầm cỡ, và cũng là người biện tài tự nhận mình có vai trò khởi xướng duy vật luận khoa học và chủ nghĩa khoa học. Việc tôi đối thoại với Wilson trong phần giới thiệu này trong chừng mực nào đó có vẻ không tương xứng vì thực sự là ông rất ít nhắc đến đạo Phật. Nhưng bởi ông đã trình bày rất hay về duy vật luận khoa học là cái đã được nhiều khoa học gia lẫn người không làm khoa học công nhận rộng rãi, cũng là giáo điều làm nảy sinh nhiều trở ngại không thể vượt qua cho bất kì sự trao đổi nào có nghĩa giữa đạo Phật và khoa học. Wilson đưa ra năm đặc tính để phân biệt khoa học với các phương thức suy luận khác (53). 1. Đặc tính thứ nhất là tính khả lặp (repeatability), nghĩa là đặc điểm trong thí nghiệm về hiện tượng cần nghiên cứu phải kiểm soát được. Nhưng đặc tính này khó khả thi trong những khoa học như thiên văn học là ngành đã khởi đầu Cuộc Cách Mạng Khoa Học, hay như địa chất học, thành ra nó không đúng với mọi ngành khoa học tự nhiên. 2. Đặc tính thứ hai là tính hài hòa (economy), cụ thể là, việc thu thập tri thức phải theo cách giản dị nhất và thẩm mỹ nhất có thể được. Trong khi sự đơn giản là đại lượng có thể đo lường khách quan thì cái đẹp lại không thể. Ở chỗ này Wilson đã để lộ ra một yếu tố chủ quan dễ thấy trong hệ thống các lí thuyết khoa học. 3. Đặc tính thứ ba là sự đo lường (mensuration), nghĩa là khoa học chú tâm vào những thứ có thể đo lường được bằng hệ thống đơn vị đo được công nhận mọi nơi. Trong lúc phép đo định lượng rất lí tưởng cho những hiện tượng vật chất có tính khách thể (objective physical phenomena) thì nó ít khả thi cho những ngành khoa học nghiên cứu về hiện tượng tinh thần có tính chủ thể (subjective mental phenomena). Điều đó dẫn khoa học đến hai chọn lựa: hoặc (a) loại trừ trải nghiệm có tính chủ thể ra khỏi lĩnh vực khoa học, hoặc (b) phải thừa nhận khái niệm đo lường chính xác cần được xét lại khi nghiên cứu về tinh thần. 4. Đặc tính thứ tư là tính kế thừa (heuristics), nghĩa là khoa học nào ưu việt sẽ kích thích phát kiến sâu hơn. Hàm nghĩa ở đây là nếu một giáo điều khoa học nào cản trở phát kiến sâu hơn thì cần loại bỏ khỏi hệ tư tưởng khoa học. 5. Đặc tính cuối cùng do chính Wilson dẫn ra là tính tương thích (consilience), nghĩa là phát kiến khoa học nào tồn tại được là do nó có thể liên kết và chứng tỏ tính tương thích với phát kiến khác. Nhưng nếu tính tương thích là cần thiết để thống nhất mọi mặt trong thế giới tự nhiên như ông hình dung, thì nó phải bao gồm cả nghiên cứu thực nghiệm về trải nghiệm có tính chủ thể lẫn hiện tượng có tính khách thể, vậy mà Wilson không đưa ra được cách nào hợp nhất hai yếu tố trên vốn đều thuộc thế giới tự nhiên.

Continue reading

Đạo Phật và Khoa học (04)– Đạo Phật có đơn thuần là tôn giáo không? (Phần 2)

Bìa sách “Buddhism and Science”

Cái mà nhiều nhà Phật học hay làm là nhét đạo Phật vào một loại hình quen thuộc nào đấy, như là “tôn giáo” hay “triết học”, mà lại không nhận rõ được đạo Phật vốn không phù hợp với bất cứ phân loại nào của người phương Tây chúng ta. Xếp loại đạo Phật một cách thoải mái như trên mà lại không nảy sinh thách thức nào với quan niệm đã có về tôn giáo, triết học hay khoa học, những nhà Phật học này chế ra một lớp người khởi xướng cách nhìn riêng cho đạo Phật vốn sẵn truyền thống lâu đời: là một lớp học giả dùng thời gian để đọc sách của người khác, và tự mình viết sách để nói về tác phẩm của người khác. Trong khi nhiều nhà Phật học hiện thời được coi trọng với tư cách Phật học gia chuyên nghiệp thì chỉ một ít  trong số này tự coi mình hay được coi là thiền giả kì cựu trong lòng đạo Phật. Sự mâu thuẫn giữa một bên là tính chuyên nghiệp trong học thuật và bên kia là sự thiếu trải nghiệm thiền định cho thấy khuynh hướng rõ rệt tồn tại trong giới Phật học hàn lâm thời nay (Wallace 1999b).

Một minh chứng rành rành cho khuynh hướng trên nằm trong tác phẩm của nhà tôn giáo học Paul Griffiths. Trong nhiều ấn phẩm lớn bàn về bản chất và mục đích thiền định đạo Phật,  Griffiths thật thà thừa nhận là theo phương pháp luận của chính mình thì ông thậm chí chẳng hề đề cập tới việc có hay không những bậc đạo sư có khả năng đạt đến trạng thái “diệt tận định” (nirodhasamapatti) vốn là mục đích tiên quyết trong hành trì thiền định. Dựa theo phân tích về văn bản học của mình, ông kết luận diệt tận định là “một loại hôn mê sâu nhưng vẫn giữ tư thế (profound cataleptic trance), là một dạng tình trạng biểu hiện ở những bệnh nhân loạn thần kinh (psychotic patient) hay bệnh nhân hôn mê sâu kéo dài (long-term coma patient)” (Griffiths 1986: 11). Khi đưa ra kết luận như vậy, ông không suy xét tại sao thiền giả đạo Phật phải trải qua nhiều năm trau dồi về triết học (Wallace 1980), về nguyên tắc đạo đức, thanh lọc tâm, về suy luận dựa trên thực chứng và thiền định, chỉ để đạt được một trạng thái mà có thể làm được không khó khăn mấy bằng một dụng cụ gõ nhanh vào đầu một cách liên tục, trực tiếp. (Chú của Kan: có lẽ tác giả đang nói về chuyện sư Lâm Tế hay dùng gậy đánh để khai ngộ cho học trò) Đây là một lối kết luận vô lí bắt nguồn từ cách tiếp cận của giới học giả Đông phương học, đã được nhiều Phật học gia sử dụng ngay từ thời sơ khởi của ngành này trong giới học thuật ở phương Tây (Almond 1988; Wallace 1999c). Điều kì quặc nhất là cách tiếp cận kiểu này được những người cổ súy cho nó xem là có tính khoa học. Ngược lại là đằng khác, khoa học hiện đại được coi là lực lượng chống lại cái kiểu suy luận phi lí, giáo điều và ngụy học thuật như trên.

Continue reading

Tám nhân chuyện “Tây Sơn hào kiệt”

Rút cục tui cũng đã đi coi “Tây Sơn hào kiệt”. Về nhà ngồi viết mấy dòng đặng tám chuyện với mọi người trong và ngoài cái phim này. Xin các bác cứ nhiệt tình ném đá, hihi!

Nhà bác Lí Huỳnh (LH)

Nhà bác LH là một trong những nhóm làm phim tư nhân ở xứ mình. Cách đây hai chục năm, mọi người lũ lượt kéo nhau ra rạp, trong đó có tui, để coi những Thăng Long đệ nhất kiếm, Người không mang họ v.v. ; vừa coi vừa phe phẩy quạt giấy.

Tây Sơn Hào Kiệt

Là phim mới nhất của nhà bác LH. Khi phim này ra mọi người bàn tán rất chi là xôm tụ, chê nhiều hơn khen. Tui cũng rứa. Vậy mà cuối cùng tui vẫn đi coi. Chiều cuối tuần vô rạp ngồi, cả phòng chiếu được chừng mười mấy người. Phim đúng là không có gì đặc sắc, mọi người đã nói nhiều, nên tui không nói lại làm gì. Tui có hai ấn tượng với phim này. Một là cảnh vua Lê Chiêu Thống quỳ rạp trước chú Tôn Sĩ Nghị nước Thuyền, chỗ này bác LH thiệt là thâm thúy mà! Có một giọng khán giả nữ thốt lên: “Trời…. ơi…..” Các bác đừng liên tưởng cảnh này với chuyện thời nay nhe, kẻo bác LH gặp rắc rối thì khổ cho bác ấy, hì hì!

Continue reading

Đạo Phật và Khoa học (03)– Đạo Phật có đơn thuần là tôn giáo không? (Phần 1)

Bìa sách “Buddhism and Science”

ĐẠO PHẬT CÓ ĐƠN THUẦN LÀ TÔN GIÁO KHÔNG?

Việc xem đạo Phật có phải là “tôn giáo” không đương nhiên tùy thuộc vào định nghĩa của chúng ta cho từ này. Theo nhà tôn giáo học Van Harvey thì chúng ta gọi một hệ gồm các đức tin cùng với phép thực hành là một tôn giáo khi mối quan tâm chủ đạo của nó là về những yếu tố cơ bản và phổ quát của nhân sinh, trong đó các yếu tố này nảy sinh do mong ước có tự do và cuộc sống đích thực  của nhân loại. (Harvey 1981: chương 8). Nếu định nghĩa tôn giáo là như thế thì đạo Phật quả thực có thể được coi là một tôn giáo. Mặt khác nếu xét theo định nghĩa về tôn giáo của Edward Wilson ở phần trước thì đạo Phật không hội đủ tiêu chí để được xem là một tôn giáo. Cốt lõi của đạo Phật là Bốn Chân Lí Màu Nhiệm (Tứ Diệu Đế): chân lí về khổ đau, chân lí về nguồn gốc khổ đau, chân lí về diệt khổ, và chân lí về con đường diệt khổ. Nghĩa là đạo Phật có rất ít những gì như Wilson quan niệm về tôn giáo, “một tập hợp những câu chuyện huyền hoặc về nguồn gốc và định mệnh con người, cũng như lý do buộc họ phải tuân theo nghi lễ hay thánh điển”.

Continue reading