Đọc “Cái vô hạn trong lòng bàn tay” (Phần 3)

Chương 5: Những ảo ảnh của hiện thực

Chương này hai ông bàn về những hạt cơ bản trong vật lý cùng với vấn đề “đối tượng quan sát”, cũng thật thú vị. Ông Ricard nêu lên lập luận gồm bảy vế của luận sư Chandrakirti (Nguyệt Xứng) để bác bỏ sự tồn tại của electron. Ta cũng nên lưu ý là phương pháp lập luận của các luận sư đạo Phật như Chandrakirti ở đây hay của Nagarjuna (Long Thụ, thầy của Chandrakirti) với “Tứ cú phân biệt” là rất đặc sắc, đồng thời rất khác với phương pháp lập luận khoa học có nguồn gốc từ triết gia Aristotle mà ngày nay ta quen gọi là logic học.

Ông Thuận sau khi giải thích hiện tượng nhòe lượng tử đã kết luận: “Do đó, nói về một hiện thực “khách quan” tồn tại ngoài quan sát là vô nghĩa, vì người ta không bao giờ có thể tổng giác được nó. Người ta chỉ có thể cảm nhận một hiện thực chủ quan của electron, là hiện thực phụ thuộc vào người quan sát và các thiết bị đo của anh ta.” (trang 127, sđd) Thật đáng mừng nếu đây là kết luận chung của giới khoa học, qua đó sẽ làm giảm được tình trạng giới khoa học nhân danh chân lý khách quan để phán xét nhiều quan điểm thuộc những truyền thống khác không thuộc phạm vi của mình, có thể kể một vài ví dụ cụ thể như thuật phong thủy, bói toán, chữa bệnh của phương Đông…

Trong phần trước, ta đã biết được một sai lầm của Einstein khi ông nhận định về bản chất thực tại thì phần này ta được biết thêm là những khoa học gia như Bohr, Pauli, Heisenberg đã phê phán sâu sắc lối suy nghĩ giáo điều của Einstein! Thật thú vị, tác giả của câu nói “Trí tưởng tượng quan trọng hơn kiến thức” mà cũng không tránh khỏi rơi vào tính giáo điều! Đoạn nói về “đối tượng quan sát” dựa trên hai quan điểm của Einstein và trường phái Copenhagen thật đặc sắc.

Ý kiến của Einstein (theo tóm tắt của Heisenberg): “Cách giải thích của trường phái Copenhagen không mô tả cho chúng ta biết cái gì xảy ra trên thực tế độc lập với các quan sát, hoặc trong khoảng thời gian giữa các quan sát. Nhưng chắc chắn phải xảy ra một cái gì đó, điều mà chúng ta không thể nghi ngờ […]. Nhà vật lý phải thừa nhận rằng anh ta nghiên cứu một thế giới không phải do chính anh ta tạo ra. Thế giới ấy về cơ bản sẽ không có gì thay đổi, cho dù chính nhà khoa học không hiện hữu ở đó.” (trang 129, sđd)

Phản hồi của Heisenberg (đại diện trường phái Copennhagen): “Người ta có thể dễ nhận thấy rằng điều mà sự phê bình trên dựa vào là nhai lại bản thể học duy vật cũ mèm. Nhưng câu trả lời dựa trên quan điểm của trường phái Copenhagen có thể như thế nào? […] Yêu cầu người ta “mô tả cái đang xảy ra” trong một quá trình lượng tử giữa hai quan sát liên tiếp nhau là một sự tự mâu thuẫn. Bởi vì từ “mô tả” liên quan tới việc sử dụng các khái niệm cổ điển, trong khi các khái niệm này không thể áp dụng trong khoảng thời gian giữa hai quan sát. […] Bản thể học của chủ nghĩa duy vật dựa trên ảo giác về một loại hiện hữu, “hiện thực” trực tiếp của thế giới xung quanh chúng ta, có thể được ngoại suy cho tới cấp độ nguyên tử. Nhưng phép ngoại suy này là không thể.” (trang 129, sđd).

Vừa rồi là phát biểu về phương pháp luận liên quan đến “đối tượng quan sát” cũng như “hiện thực” rất đặc sắc. Nhưng ý nghĩa của nó là như thế nào? Hãy chuyển nội dung này sang đạo Phật để có sự đối chiếu. Chẳng hạn như thế này, Einstein hỏi: Ê Heisenberg! Mày mô tả tao nghe coi Niết Bàn là gì? Heisenberg trả lời: Thưa bác Einstein! Bác đang trông chờ em mô tả Niết Bàn dựa trên những khái niệm sẵn có về không gian, thời gian, vật chất ta đã biết v.v. Nhưng mà Niết Bàn là một hiện thực hoàn toàn mới, không giống bất cứ kinh nghiệm nào ta đã có, nên em không thể dùng những khái niệm cũ như trời, đất, người, thú v.v. để mô tả Niết Bàn cho bác nghe được!

Và, hai ông Thuận và Ricard đã tìm được tiếng nói chung trong vấn đề các hạt cơ bản. Trịnh Xuân Thuận nói: “như vậy, tôi không thấy có mâu thuẫn nào giữa quan điểm của khoa học và đạo Phật về tính hiện thực của các hạt cơ bản. Chúng ta phải coi chúng là các tiềm năng chỉ được vật chất hóa thông qua tương tác với một thiết bị đo hoặc với ý thức của người quan sát. Người ta vẫn chưa thể bóc tách từ quá trình quan sát một hiện thực hoàn toàn độc lập hay là một sự xác định chỉ thuộc riêng đối tượng đó. Như vậy, hiện thực không thể bị chia tách thành chủ thể và khách thể.” (trang 142, sđd).

Matthieu Ricard tiếp lời: “Khái niệm các hạt không thể phân chia và tồn tại vĩnh cửu, tức là các yếu tố cấu thành tối hậu của vật chất, chắc đã tồn tại ở Ấn Độ cùng thời kỳ với các triết gia Hy Lạp tiên phong vì các luận sư đạo Phật đã cố gắng tìm cách bác bỏ khái niệm này. Các vị luận sư cho rằng để có đặc tính không thể phân chia được, các hạt phải quy về một điểm không có kích thước.” (trang 143, sđd).

Như vậy, nhìn chung ta có thể hiểu thế giới hạt cơ bản không tồn tại độc lập mà phụ thuộc vào người quan sát và thiết bị quan sát. Cụ thể hơn, không có thực tại tối hậu nào chi phối các sự vật hiện tượng.

(còn tiếp)

Leave a Reply

Fill in your details below or click an icon to log in:

WordPress.com Logo

You are commenting using your WordPress.com account. Log Out / Change )

Twitter picture

You are commenting using your Twitter account. Log Out / Change )

Facebook photo

You are commenting using your Facebook account. Log Out / Change )

Google+ photo

You are commenting using your Google+ account. Log Out / Change )

Connecting to %s