Đọc “Cái vô hạn trong lòng bàn tay” (Phần 2)

Chương 3. Đi tìm người thợ đồng hồ vĩ đại

Mở đầu chương này, ông Thuận cho rằng các định luật vật lý phải được sắp xếp rất hoàn hảo mới có sự xuất hiện của con người: “khoa học về vũ trụ hiện đại đã phát hiện ra rằng sự tồn tại của con người đã được quy định trong các tính chất của từng nguyên tử, từng ngôi sao và từng thiên hà của vũ trụ và trong từng định luật chi phối vũ trụ. Chỉ cần tính chất và các định luật của vũ trụ khác đi một chút thì chúng ta chẳng có mặt ở đây để nói với nhau về điều đó…” (trang 65 sđd). Ông Ricard dường như không tán thành lập luận này khi ông nói: “đừng tin như thế…” (trang 65 sđd), và dù ông Thuận đã dẫn nhiều kết quả để chứng minh cho lập luận trên thì Ricard vẫn cho rằng: “Theo đạo Phật, nguyên lý vị nhân không có ý nghĩa gì lớn lao cả. Viện đến sự can thiệp của một nguyên lý sáng thế hay một tính mục đích nào đó tác dụng điều chỉnh vũ trụ chính xác đến hoàn hảo để ý thức có thể xuất hiện là điều vô ích.” (trang 69, 70 sđd).

Tôi hoàn toàn tán đồng với ông Ricard. Thứ nhất, khi lập luận như vậy ông Thuận đã vô tình tự mâu thuẫn khi trước đó cho rằng vũ trụ là một khách thể nghĩa là ngoài con người, rồi giờ lại gom các quy luật vật lý chỉ để chứng minh cho sự có mặt của con người! Đó chính là nguyên lý vị nhân mà Ricard nói tới. Thứ hai, chính tính vị nhân quá đáng đã dẫn ông Thuận đến một sai lầm khi nói rằng chỉ cần các định luật vật lý sai lệch li tấc là con người sẽ không xuất hiện. Con người không xuất hiện thì đã sao? Tôi hoàn toàn có thể nói nếu các định luật vật lý sai khác đi thì một dạng “con người khác”, hay một dạng sống khác, sẽ xuất hiện thì có sai không? Đương nhiên là khoa học không thể trả lời được. Ta có thể thấy rõ sự mâu thuẫn trong phương pháp khoa học, một mặt đề cao tính khách quan, mặt khác lại lấy con người làm trung tâm một cách quá đáng, chẳng hạn việc tìm kiếm “người ngoài trái đất” là một ví dụ khi tất cả đều hình dung những “dị nhân ngoài trái đất” tối thiểu cũng phải có một vài cơ quan nào đó như mắt, miệng… cho phù hợp với suy nghĩ của con người về một sinh vật sống!

Từ đây đến cuối chương ta còn bắt gặp không ít những lập luận rơi vào vòng lẩn quẩn của ông Thuận mà ông Ricard đã chỉ ra, thậm chí ông Thuận phải thừa nhận “tôi đồng ý với ông đó là một định kiến siêu hình của tôi.” (trang 76, sđd). Cá nhân tôi cho rằng những kiến giải của Ricard trong suốt chương này là rất mạnh mẽ và trực diện, ông dùng chính phương pháp lập luận của khoa học, “lấy mỡ nó rán nó”, để phê bình những quan niệm của khoa học mà ông Thuận đưa ra, về những khái niệm gắn với vũ trụ như là: nguyên lý sáng thế, điểm khởi đầu, điểm kết thúc v.v.

Ở cuối chương, ông Thuận hỏi: “Như vậy, đạo Phật phủ định thẳng thừng khái niệm về một Thượng đế sáng thế, điều này đi ngược lại với các tôn giáo chỉ thừa nhận một Thượng đế duy nhất. Thế chẳng phải là không phù hợp với hình ảnh từ bi mà đạo Phật vẫn thường nêu sao? Làm thế nào dung hòa được quan điểm này với sự tôn trọng các tôn giáo khác?” (trang 92, sđd)

Chúng ta hãy nghe câu trả lời của Ricard: “khái niệm từ bi dù rất rộng nhưng không bao hàm sự gắn kết với các quan điểm siêu hình mà chúng tôi không tán đồng, nhưng bao hàm sự tôn trọng các con đường tu thân khác nhau phù hợp với bản chất và thiên hướng khác nhau của con người. Nhưng tất cả còn phụ thuộc vào quan niệm về Thượng đế. Ví dụ, Đạt Lai Lạt Ma cho rằng: “Nếu người ta xem xét Thượng đế không phải trên phương diện thần thánh có tính cá nhân, mà với tư cách là nền tảng của bản thể, thì các phẩm chất như lòng vị tha có thể được gắn với nền tảng thiêng liêng này của bản thể. Nếu người ta hiểu Thượng đế theo cách này thì có thể xác lập được quan hệ gần gũi giữa một số yếu tố của tư duy và sự thực hành đạo Phật.” Nhưng đó cũng không phải là cách làm đồng nhất mọi dạng, tôn giáo, tâm linh, khoa học, nhân văn, hay bất trả tri luận hiện tồn tại trên hành tinh! Đó không phải là mục đích của từ bi. Đạt Lai Lạt Ma nói: “Tôi không tán thưởng việc đi tìm một tôn giáo phổ quát. Tôi không nghĩ điều này là sáng suốt. Nếu chúng ta thúc đẩy việc tìm kiếm các điểm tương đồng đi quá xa mà không biết những khác biệt thì cái mà chúng ta đạt được lại chính là sự khác biệt.” ” (trang 92, sđd).

Nhìn theo một góc hẹp cho nhận định trên, ta thấy lập luận cho rằng tôn giáo nào cũng có mục đích tốt đẹp là một sự khái quát vội vàng thiếu suy nghĩ, và ngược lại, hiện tượng xung đột dưới nhiều hình thức trong nội bộ một tôn giáo hay giữa các tôn giáo trong suốt chiều dài lịch sử còn tệ hại hơn sự khái quát nêu trên rất nhiều. Và thêm một điều nữa cần nhấn mạnh, đạo Phật không phải là một tôn giáo!

Chương 4. Vũ trụ trong hạt cát

Chương này bắt đầu bằng kiến giải của Ricard về tính không mà như tôi đã nói ở phần trước, tôi hiểu tính không đơn giản là vạn vật nương tựa vào nhau, không có bất kì sự vật hay hiện tượng nào tự thân tồn tại, hay nói khác đi không có sự vật hiện tượng nào tồn tại độc lập với các sự vật hiện tượng khác. Ông Thuận tán thành điểm này: “tất cả những điều ông nói về sự phụ thuộc lẫn nhau tạo cho tôi những cộng hưởng mạnh mẽ, vì khoa học, bằng các kỹ thuật riêng của mình, cũng đã phát hiện ra rằng hiện thực là tổng thể và phụ thuộc lẫn nhau, cả trong thế giới nội nguyên tử (vi mô – Én Nhỏ) lẫn trong thế giới vĩ mô.” (trang 101, sđd). Ông dẫn ra hai thí nghiệm, thí nghiệm EPR (Einstein – Podolsky – Rosen) cho thang vi mô và thí nghiệm con lắc Foucault cho thang vĩ mô.

Ở thang vi mô, thí nghiệm EPR khởi đầu là một thí nghiệm tưởng tượng của Einstein và các cộng sự đưa ra năm 1935 nhằm chứng minh cơ học lượng tử là sai lầm khi giải thích thực tại dựa trên xác suất. Ông từng tuyên bố “Chúa không chơi trò xúc sắc”, nghĩa là phải có một thực tại tất định, độc lập chi phối hành trạng của mọi vật ở thang vi mô lẫn vĩ mô. Để cho dễ hình dung, ta có thể thấy thực tại tất định trong thuyết tương đối của chính Einstein là không – thời gian và vận tốc ánh sáng.

Tôi xin đơn giản hóa thí nghiệm tưởng tượng EPR như sau: có 2 người A và B đi buôn lậu, khởi hành từ xích đạo đi về 2 hướng ngược nhau, A hướng bắc, B hướng nam. Khi hai người đã ở cách xa nhau đến hàng ngàn km, thì A bị bắt. Lập tức ngay chính tại thời điểm đó B biết A bị bắt. Điều này chỉ có thể giải thích là A đã lấy điện thoại di động ra báo cho B biết trước điều này. Và ta đã biết hình thức liên lạc qua điện thoại di động bị phụ thuộc vào không gian, thời gian, vận tốc truyền sóng viễn thông. Trong khi đó, cơ học lượng tử cho rằng B sẽ ngay lập tức biết A bị bắt mà không cần bất cứ hình thức liên lạc nào. Các thí nghiệm của nhóm Alain Aspect năm 1982 hay nhóm Nicolas Caisin năm 1998  đã chứng minh cơ học lượng tử đúng, Einstein sai. Nghĩa là, không có một thực tại độc lập nào đứng sau chi phối hành trạng của các hiện tượng, hay mọi hiện tượng đều phụ thuộc lẫn nhau.

Ở thang vĩ mô, thí nghiệm con lắc Foucault với hiện tượng mặt phẳng dao động của con lắc quay theo chuyển động của trái đất, sau này được kết luận theo lời ông Thuận: “con lắc Foucault điều chỉnh hành trạng không phải theo môi trường tại chỗ của nó, mà theo các thiên hà xa xôi nhất, nghĩa là theo toàn bộ vũ trụ…” (trang 109,sđd). Điều đó cũng có nghĩa là mỗi một hiện tượng đều phụ thuộc vào một tổng thể rộng lớn, thậm chí “hiệu ứng con bướm” (butterfly effect) được nói đến nhiều sau này trên thế giới cũng dựa trên một tinh thần như thế.

Như vậy, ta cũng thấy trên một phương diện nào đó, đạo Phật và khoa học có chung một quan niệm về thực tại tuy ngôn ngữ diễn đạt theo những cách riêng. Tuy vậy, khi ông Thuận có ý đi xa hơn khi cho rằng “Chỉ một việc đơn giản là hít thở thôi cũng gắn bó chúng ta với tất cả các sinh vật đã từng sống trên địa cầu. Ví dụ, chúng ta hiện nay vẫn đang hít thở hàng triệu hạt nhân nguyên tử từ khói của vụ hỏa thiêu Jeanne d’Arc năm 1431 và vài phân tử từ hơi thở cuối cùng của Julius Cesar” (trang 114, sđd) thì Ricard đáp ngay “Theo đạo Phật thì các mối quan hệ phân tử của chúng ta không lớn đến thế, vì xét cho cùng thì các quan hệ này cũng không ảnh hưởng gì đến hạnh phúc hay đau khổ của chúng ta, mà quan trọng nhất là các sinh vật (về quan điểm này chúng ta khá gần nhau) đều ao ước giống nhau là được hạnh phúc và thoát khỏi bất hạnh.” (trang 114, sđd). Thật vậy, ta biết là khoa học đã mang lại cho con người nhiều tiện ích trong cuộc sống, nhưng không phải là không có những điều vô nghĩa. Tôi có hít phải nguyên tử tro vụ thiêu trên không ảnh hưởng gì đến việc tôi đang mỏi tay gõ những dòng này, hay tôi có hít phải vài phân tử hơi thở Cesar cũng chẳng mảy may quan hệ với việc tôi đang nhức đầu mệt mỏi tìm cách tóm tắt và bình luận quyển sách này. Xa hơn, việc vũ trụ có điểm khởi đầu hay không, có biên hay không biên v.v. không hề ảnh hưởng gì đến mong muốn được thoải mái, hạnh phúc của mọi người. Đây là điểm mà Đức Phật đã nhiều lần nhấn mạnh.

“Người ta còn nói rằng trên một nhánh cỏ và mỗi một hạt bụi, trong mỗi một nguyên tử và mỗi lỗ chân lông trên da từng Đức Phật đều có vô số các thế giới mà không nhất thiết các thế giới này phải nhỏ lại hay các lỗ chân lông phải to ra…” (trang 117, sđd). Trịnh Xuân Thuận đã tỏ ý thán phục khi nghe Matthieu Ricard nói như trên, vì ông ngạc nhiên khi đạo Phật có thể kiến giải những tư tưởng cực kì tinh tế bằng những hình ảnh thật gần gũi. Tôi cũng cho rằng không phải chỉ có một vũ trụ. Mà, mỗi con người là một vũ trụ, mỗi vi khuẩn là một vũ trụ, mỗi viên đá là một vũ trụ v.v. Vũ trụ ở ngay trong mình, trong mình đã chứa vô số vũ trụ rồi!

(còn tiếp)

Leave a Reply

Fill in your details below or click an icon to log in:

WordPress.com Logo

You are commenting using your WordPress.com account. Log Out / Change )

Twitter picture

You are commenting using your Twitter account. Log Out / Change )

Facebook photo

You are commenting using your Facebook account. Log Out / Change )

Google+ photo

You are commenting using your Google+ account. Log Out / Change )

Connecting to %s